Bản án 157/2019/DSPT ngày 17/09/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 157/2019/DSPT NGÀY 17/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 17 tháng 09 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2019/TLPT-DS ngày 07/08/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2019/DS-ST ngày 12/06/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 161/2019/QĐPT-DS, ngày 13 tháng 08 năm 2019, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Lê Kim Th, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt ngày 26/8/2019); Địa chỉ: khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

-Bị đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1960 (có mặt);

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn R, sinh năm: 1960 (có mặt); Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người làm chứng:

1. Bà Huỳnh Thị Ch (vắng).

2. Bà Nguyễn Thị Mai A (vắng).

3. Bà Nguyễn Xuân L, sinh năm 1982 (vắng).

4. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1982 (vắng).

5. Bà Nguyễn Xuân T, sinh năm 1974 (vắng).

6. Ông Lê Văn Th, sinh năm 1969 (vắng).

7. Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1984 (vắng).

8. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959 (vắng).

9. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1975 (vắng).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị S là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 7 năm 2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Kim Th trình bày:

Vào ngày 15/4/2008 âm lịch bị đơn Lê Thị S có tham gia dây hụi do bà Th làm đầu thảo, loại hụi 5.000.000đồng, một năm khui một lần, gồm có 11 phần hụi, bà S tham gia một phần. Bà S hốt hụi vào kỳ khui hụi thứ 8 ngày 15/4/2015, bỏ thăm 3.500.000đ, hụi viên đóng 1.500.000đ, số tiền hốt hụi: 07 phần chết x 5.000.000đ + 03 phần sống x 1.500.000đ = 39.500.000đ, trừ huê hồng 2.000.000đ nên nhận 37.500.00đ, khi giao tiền hụi bà S có ký tên nhận tiền hụi. Bà S đóng lại được hai lần hụi chết còn nợ lại một lần hụi chết nên bà Th phải chàng hụi thay cho bà S là 5.000.000đ, dây hụi này đã mãn. Nay bà Th yêu cầu bà Sáu trả tiền chàng hụi là 5.000.000đ và lãi suất 125.000đ, tổng cộng là 5.125.000đ.

- Tại bản tự khai ngày 28 tháng 8 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị S trình bày:

Bà Sáu có tham gia hụi do bà Th làm đầu thảo và thống nhất như lời trình bày của bà Th về loại hụi, thời gian mở hụi là ngày 15/4/2008 âm lịch, bà S tham gia một phần hụi, hốt hụi lần khui hụi thứ 7 được số tiền là 34.500.000đ, sau khi trừ huê hồng chỉ nhận 32.500.000đ. Khi tham gia hụi bà Th có đưa danh sách hụi trong đó chỉ có 10 người tham gia, bà S đã đóng hụi chết đầy đủ nên bà S không đồng ý trả nợ theo yêu cầu bà Th.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/4/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn R trình bày: Ông R là chồng của bà Lê Thị S. Việc bà S có tham gia dây hụi do bà Th làm chủ hụi khui ngày 15/4/2008 lúc đầu chỉ có 10 người tham gia, dây hụi này do bà S trực tiếp giao dịch với bà Th. Bà S kêu hụi 3.500.000đ hốt lần thứ 7 với số tiền là 34.500.000đ, sau khi trừ huê hồng chỉ nhận được 32.500.000đ. Bà Th có giao tiền hụi cho ông R ký nhận tiền và nhìn vào sổ thấy ghi số tiền 32.500.000đ. Chữ ký trên tờ giao kèo ngày 15/4/2008 là chữ ký của ông. Còn chữ ký trên danh sách tham gia hùn vốn không phải là chữ ký của ông. Ông R không yêu cầu giám định chữ ký. Nay bà Th yêu cầu bà Sáu trả 5.000.000đ là không đúng vì sau khi hốt hụi đã đóng hụi chết đầy đủ cho bà Th.

- Những người làm chứng vắng mặt nhưng có văn bản trình bày là có tham gia dây hụi do bà Th làm đầu thảo như lời trình bày của nguyên đơn về ngày mở hụi, dây hụi có 11 phần hụi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số:15/2019/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 27; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 28, 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lê Kim Th. Buộc bà Lê Thị S có nghĩa vụ trả bà Lê Kim Th tiền hụi và lãi suất là 5.125.000đ (năm triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án nhưng không bị kháng cáo, kháng nghị.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/06/2019 bị đơn bà S kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của bà Th yêu cầu bà S trả 5.000.000đ .

Tại phiên tòa phúc thẩm,

- Người kháng cáo bà S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý trả cho bà Th số tiền hụi 5.000.000đ.

- Nguyên đơn bà Th vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có ý kiến đề nghị tòa án xét xử theo qui định của pháp luật.

Quan điểm của kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long như sau :

-Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là phù hợp pháp luật.

-Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Lê Thị S là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2019/DSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Bà S phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của người tham gia tố tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 21/06/2019 Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long nhận đơn kháng cáo của bà S còn trong hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ. Do vậy vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm qui định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, theo qui định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Th.

[2] Về nội dung: Ngày 15/4/2008 âl bà Lê Kim Th có làm đầu thảo dây hụi tiền 5.000.000 đ, một năm khui một lần, có 11 phần hụi , bà Lê Thị S tham gia một phần, ở kỳ khui hụi thứ 8 ngày 15/4/2015 bà Lê Thị S bỏ thăm hốt hụi số tiền 39.500.000đ, trừ huê hồng 2.000.000đ nên nhận tiền hụi là 37.500.000đ và có ký tên nhận tiền hụi. Bà Lê Thị S trình bày hốt hụi ở kỳ khui hụi thứ 7 bỏ thăm 3.500.000đ nhận tiền hụi 6 phần hụi chết là 30.000.000đ cộng với 3 phần hụi sống 4.500.000đ, tổng cộng bằng 34.500.000đ, trừ huê hồng 2.000.000đ, chỉ nhận được 32.500.000đ là không phù hợp với danh sách các hụi viên ký nhận tiền lập ngày 15/4/2008 thể hiện bà S hốt hụi vào ngày 15/4/2015, số tiền ký nhận 37.500.000đ. Mặt khác, những người làm chứng là thành viên tham gia chơi hụi đã xác nhận dây hụi có 11 phần hụi, bà Sáu tham gia một phần hụi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà S không cung cấp được chứng cứ khác chứng minh dây hụi ngày 15/4/2018 chỉ có 10 phần hụi, nên có căn cứ xác định dây hụi này có 11 phần hụi, bà S tham gia 1 phần hụi và hốt hụi kỳ khui hụi thứ 8, còn nợ lại bà Th ba kỳ hụi chết, đã đóng được hai kỳ hụi chết, bà Th là chủ thảo đã chàng hụi thay bà S một kỳ hụi chết nên bà S phải có trách nhiệm trả bà Th tiền chàng hụi 5.000.000đ là phù hợp pháp luật. Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bà S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà S phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về lãi suất chậm thi hành án, về án phí sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị S

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2019/DS-ST ngày 12 tháng 06 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 27; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 28, 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Kim Th. Buộc bà Lê Thị S có nghĩa vụ trả bà Lê Kim Th tiền hụi và tiền lãi là 5.125.000đ (năm triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

2.Về án phí phúc thẩm : Áp dụng khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Bà Lê Thị S phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0015468 ngày 01/07/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về lãi suất chậm thi hành án, về án phí sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 157/2019/DSPT ngày 17/09/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:157/2019/DSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/09/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về