Bản án 159/2018/HNGĐST ngày 15/10/2018 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 159/2018/HNGĐST NGÀY 15/10/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 15 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 161/2017/TLST-HNGĐ ngày 2 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp: Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hà thị Minh T sinh năm 1988

Trú tại: Khu phố phường Trung sơn Trầm – Thị xã Sơn Tây – Hà Nội.

Bị đơn: Ông S sinh năm 1957

Địa chỉ: 13 Penn House, Gravel Hill, Coventry, England CV4 9JG

Bà Hà thị Minh T có mặt, Ông Sean Brendan McGough vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo đơn, lời khai của Bà Hà thị Minh T thì nội dung vụ án như sau :

Bà Hà thị Minh T, Ông S kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/2012 tại UBND Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng T thuê nhà ở nhiều nơi và sống tại Hà Nội. Quá trình chung sống phát sinh mâu Thuẫn, từ tháng 6/2015 Ông Svề sinh sống ở Vương quốc Anh, bà T sinh sống tại Việt Nam. Hai bên không còn tình cảm vợ chồng, không ai quan tâm đến ai, bà T xin ly hôn .

Về con chung: Bà Hà thị Minh T, Ông Scó 1 con chung DEAGLÁN VIỆT LONG MCGOUGH sinh ngày 22/2/2012, hiện đang ở với ông Sean, khi ly hôn bà T đồng ý giao con cho ông Sean nuôi, không Tòa án giải quyết yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bà Hà thị Minh T trình bày: Bà T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn .

Về con chung : Đồng ý giao con chung là DEAGLÁN VIỆT LONG MCGOUGH cho ông S nuôi dưỡng, hàng tháng bà T cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ.

Về tài sản, nhà ở chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã 2 lần thực hiện ủy thác tư pháp nhưng không có kết quả, do vậy căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Sean Brendan McGough.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng từ 2015 ông Svề sinh sống tại Vương Quốc Anh, bà T sinh sống tại Việt Nam cho đến nay, hai bên không ai quan tâm đến ai tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ để chấp nhận, do vậy căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hà.

Về con chung: Ông bà có 1 con chung hiện đang ở với ông S, bà T tự nguyện đồng ý để ông S tiếp tục nuôi con chung và hàng tháng bà T cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ, xét sự tự nguyện của bà T phù hợp pháp luật, nên chấp nhận.

Về tài sản và nhà ở: Bà T không yêu cầu, nên không xem xét.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Ông S đang cư trú tại Vương Quốc Anh do vậy Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã 2 lần thực hiện ủy thác tư pháp như sau :

Lần 1: Ngày 29/12/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã gửi Văn bản ủy thác tư pháp số 288/UTTPDS-TA24 -TLĐ ngày 7/12/2017 và hồ sơ ủy thác tư pháp đến Bộ Tư Pháp. Ngày 2/2/2018 Bộ Tư pháp có Văn bản số 246/CH-BTP gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với nội dung : “ Bộ Tư pháp Việt Nam kính đề nghị Toà án hoàng gia Liên hiệp Vương quốc Anh – Bắc Ai len thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội”.

Lần 2: Ngày 12/7/2018 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã gửi Văn bản ủy thác tư pháp số 169/UTTPDS-TA24-TLĐ ngày 4/7/2018 và hồ sơ ủy thác tư pháp đến Bộ Tư Pháp. Ngày 24/7/2018 Bộ Tư pháp có Văn bản số 1888/CH-BTP gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với nội dung: “Bộ Tư pháp Việt Nam kính đề nghị Toà án hoàng gia Liên hiệp Vương quốc Anh – Bắc Ai len thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội”, nhưng đến nay không có kết quả. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành niêm yết và đăng trên cổng thông tin của Toà án các văn bản tố tụng, nhưng ông S vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ điểm d khoản 1 điều 474, điểm c khoản 5 điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ông S và giành quyền kháng cáo cho Ông S theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà thị Minh T, Ông Skết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/2012 tại UBND Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại điều 19 Luật Hôn nhân gia đình “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm ,chăm sóc giúp đỡ nhau … có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Tại Công văn số 9815/QLXNC- P3 ngày 2.8.2018 Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ công an cung cấp thông tin: “Có trường hợp S sinh ngày 16/7/1957, lần cuối xuất cảnh ngày 12/6/2015 qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa thấy thông tin nhập cảnh ”. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bà T thể hiện từ ngày 12/6/2015 đến nay ông Svề sinh sống tại Liên hiệp Vương quốc Anh – Bắc Ai len, bà T sinh sống tại Việt Nam, hai bên không chung sống với nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không làm tròn nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc của người vợ người chồng đối với nhau là vi phạm điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Thấy rằng hai bên sinh sống ở hai quốc gia khác nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin ly hôn của bà T là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên được chấp nhận.

2/ Về con chung: Bà Hà thị Minh T, Ông Scó 1 con chung DEAGLÁN VIỆT LONG MCGOUGH sinh ngày 22/2/2012, hiện đang ở với ông Sean, khi ly hôn bà T đồng ý giao con chung cho ông Sean nuôi dưỡng, hàng tháng bà T cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ, xét sự tự nguyện của bà T phù hợp pháp luật, nên chấp nhận .

3/ Về tài sản và nhà ở chung: Bà Hà thị Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Ông S không có lời khai do vậy Tòa án không xem xét về tài sản và nhà ở và giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác nếu các đương sự có yêu cầu.

4/ Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

 Từ những nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37, điểm d khoản 1 điều 474, điểm c khoản 5 điều 477, khoản 4 điều 147, điều 271,273, điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điều 19, 56, 81,82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy dịnh về mức Thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hà thị Minh T. Bà Hà thị Minh T, Ông Sđược ly hôn.

2/ Về con chung: Bà Hà thị Minh T, Ông S có 1 con chung DEAGLÁN VIỆT LONG MCGOUGH sinh ngày 22/2/2012. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T giao con chung cho Ông S trực tiếp nuôi dưỡng, hàng tháng bà T cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ kể từ tháng 10/2018 đến khi con trưởng thành hoặc có quyết định khác thay thế .

Bà Hà thị Minh T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản và nhà ở chung: Bà Hà thị Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Ông Skhông có lời khai do vậy Tòa án không xem xét về tài sản và nhà ở và giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác nếu các đương sự có yêu cầu.

4/ Về án phí : Bà Hà thị Minh T chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 9629 ngày 28/9/2017 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

Bà Hà thị Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ Toà tuyên án.

Ông S có quyền kháng cáo trong hạn 12 tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 159/2018/HNGĐST ngày 15/10/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:159/2018/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về