Bản án 160/2019/HSST ngày 21/08/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 160/2019/HSST NGÀY 21/08/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2019; tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 150/2019/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

TRẦN HÙNG C; sinh ngày 07 tháng 10 năm 1995 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú: Tập thể nhà máy cơ khí xây dựng, xã C, huyện G, Thành phố Hà Nội; nơi ở: Số nhà 78 phố L, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: (Tự do); trình độ văn hoá: 7/12; con ông: Trần Quốc H và bà Trịnh Thị Mai H; vợ là Nguyễn Thị Tuyết L.

Danh chỉ bản số: 151 ngày 12/3/2019. Lập tại Công an quận H. 

Tiền án: (không) 01 Tiền sự: Ngày 19/7/2010 Công an thị trấn T, huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Tạm giữ: 08/03/2019; tạm giam: 12/03/2019 - (Có mặt).

* Người bị hại :

1. Anh Nguyễn Ngọc T; sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: Xã X, huyện T, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số 152 ngõ 9 phố H, phường N, quận C, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

2. Anh Phạm Văn V; sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Xã X, huyện T, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số 225B ngõ 35 phố N, phường T, quận M, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

3. Anh Trịnh Quốc A; sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú và nơi ở: Phòng 109, C6 tập thể K, phường K, quận Đ, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 00h30’ ngày 17/9/2017 anh Trịnh Quốc A gọi điện cho bạn là chị Võ Thị Minh T, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang là nhân viên quán Bar 25 S để đặt bàn uống rượu. Khi đến quán Bar, anh Quốc A ngồi cùng bàn với chị T, sau đó chị T gọi điện cho bạn là chị Trần Thị Huyền Tr, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: Số 6 ngách 74 ngõ 39 phố H, phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội là nhân viên quán Bar đến và ngồi uống rượu cùng bàn với anh Quốc A. Lúc này chị Tr gọi cho người yêu là M (tức Trần Hùng C) đến quán để đón chị Tr về. Khi C đến, C ngồi uống rượu cùng với anh Quốc A, chị T và chị Tr. Trong quán Bar, tại bàn số 6 có khoảng 08 người trong đó có anh Phạm Văn V, sinh năm 1991 và anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1992; cùng có hộ khẩu thường trú: Xã X, huyện T, tỉnh Nam Định và một số người khác đến chơi. Khoảng 02h00 cùng ngày khi quán Bar chuẩn bị đóng cửa, anh Quốc A đứng dậy thanh toán tiền và đi ra ngoài cùng với C, còn chị T và chị Tr đi thay quần áo. Khi anh Quốc A và C đứng ở cửa quán Bar, chị T ra nhờ C đi cùng lấy xe máy cho chị H (hiện chưa xác định được). Lúc đó, anh Quốc A thấy một nam thanh niên trong nhóm của anh V (hiện không xác định được) trêu chị Tr nên C đã to tiếng với nhóm của anh V. Sau đó, C bỏ đi, khi quay lại C mang theo một con dao nhọn (loại dao bầu) chạy về phía nhóm của anh V, C lao vào dùng dao đâm anh T từ phía sau trúng vào mông anh T. Anh Quốc A chạy vào can ngăn thì bị C dùng dao đâm vào vai phải, anh V cũng bị C đâm vào hộc nách trái làm anh V ngã xuống đất. Anh Quốc A được chị T đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T, đến sáng hôm sau được phẫu thuật tại Bệnh viện 1 do tràn dịch màng phổi. Anh T và anh V được bạn bè đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 1.

Quá trình rà soát camera, Cơ quan điều tra đã thu giữ của anh Phạm Thanh H tại số 35 phố Q, quận H, Hà Nội 01 USB vỏ màu trắng bằng nhựa nhãn hiệu Transccend và thu giữ tại cửa hàng của chị Nguyễn Thị T tại 20 phố S, quận H, Thành phố Hà Nội 01 USB lưu giữ hình ảnh vụ việc gây thương tích.

Theo kết luận giám định pháp y, thương tích của anh Trịnh Quốc A:

Phần khám giám định về thương tích:

- Vết thương ngực phải (khoảng liên sườn II, III đường nách trước) kích thước 5cm x 0,3cm, vết thương khô còn chỉ.

- Vết thương dẫn lưu khoang màng phổi phải (khoang liên sườn VII đường nách sau bên phải) kích thước khoảng 2cm x 1cm.

Phần Kết luận tại thời điểm giám định: Vết thương, vết dẫn lưu 03%. Tổn thương nhu mô phổi phải 06%. Hiện chưa đánh giá được mức độ di chứng dày dính, xơ dính khoang màng phổi, nhu mô phổi phải (đề nghị giám định bổ sung nếu cần thiết).

Nhiều khả năng thương tích do vật có cạnh sắc nhọn gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 13%. Tính theo phương pháp cộng lùi.

Theo kết luận giám định pháp y, thương tích của anh Phạm Văn V:

Phần khám giám định về thương tích:

- Vết mổ vùng ngực trái cạnh mũi ức trái kích thước 5cm x 0,3cm, còn chỉ.

- Vết thương, vết mổ thành ngực bên trái kích thước 17cm x 0,3 cm, còn chỉ.

- Vết thương mặt sau trên cánh tay trái sát hõm nách kích thước 5cm x 0,3cm, còn chỉ.

 Phần Kết luận tại thời điểm giám định: Các vết thương, vết mổ, vết dẫn lưu: 10%.

Tổn thương xương sườn V trái, sụn sườn II, III trái: 06%. Tổn thương tràn dịch máu khoang màng phổi trái đã phẫu thuật dẫn lưu: 05%. Tổn thương nhu mô phổi trái: 10%. Tổn thương các động mạch liên sườn II, III, IV, động mạch vú trong: 06%. Hiện chưa đánh giá được mức độ di chứng dày dính, xơ dính khoang màng phổi, nhu mô phổi trái (đề nghị giám định bổ sung nếu cần thiết).

Nhiều khả năng thương tích do vật tày có cạnh sắc nhọn gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 32%. Tính theo phương pháp cộng lùi.

Sau khi gây án, Trần Hùng C bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Đến ngày 07/3/2019 Công an phường V, quận T bắt giữ được Trần Hùng C theo quyết định truy nã của Công an quận H, Thành phố Hà Nội.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hùng C khai nhận hành vi như trên và khai: Sau khi ra khỏi quán đứng chờ chị Tr, thấy chị Tr bị một nhóm thanh niên đi sau có hành vi sàm sỡ, hai bên có lời qua tiếng lại nên xảy ra cãi nhau. Sau đó C đi ra bãi xe, nhìn thấy con dao trong ngăn bàn gần chỗ bảo vệ (dài khoảng 8 -10 cm, lưỡi dao dài khoảng 15 -20 cm, bề rộng khoảng 5 - 8 cm), C lấy con dao đó chạy lại đâm vào một nam thanh niên trêu chị Tr. Lúc đó có người can ngăn nên C tiếp tục đâm người đó, do đông người nên C không nhớ đâm cụ thể vào ai, như thế nào, chỉ nhớ đâm 03 người.

Người bị hại là anh Trịnh Quốc A, anh Phạm Văn V và anh Nguyễn Ngọc T khai phù hợp với lời khai của Trần Hùng C và khai: Khoảng 02h00’ ngày 17/09/2017 tại trước cửa quán Bar, do C nghi ngờ có người trêu chị Trần Thị Huyền Tr nên xảy ra va chạm, cãi nhau. Sau đó C bỏ đi, khi quay lại C cầm 01 con dao đâm anh T, anh Quốc A và anh V gây thương tích.

Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời anh Nguyễn Ngọc T đi giám định thương tích nhưng anh T từ chối đi giám định thương tích nên không có căn cứ xác định thương tích C gây ra cho anh T.

Anh Trịnh Quốc A không yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Anh Phạm Văn V và anh Nguyễn Ngọc T đã nhận bồi thường mỗi người 20.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKS ngày 01/7/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố Trần Hùng C về tội “Cố ý gây thương tích” - theo điểm c, d khoản 3 Điều 134 (điểm a, i khoản 1) của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Hùng C khai khoảng 01h00’ ngày 17/9/2017 chị Trần Thị Huyền Tr (bạn gái C) gọi điện cho C đến quán Bar F 25 phố S, Hà Nội để đón chị Tr về. Khi C đến quán, C ngồi uống rượu cùng với anh Quốc A, chị T và chị Tr. Trong quán Bar, tại bàn số 06 có khoảng 08 người trong đó có anh Phạm Văn V, anh Nguyễn Ngọc T và một số người khác đến chơi. Khoảng 02h00’ cùng ngày khi quán Bar chuẩn bị đóng cửa, anh Quốc A đứng dậy thanh toán tiền và đi ra ngoài cùng với C, còn chị T và chị Tr đi thay quần áo. Khi anh Quốc A và C đứng ở cửa quán Bar chờ chị T và chị Tr, C thấy chị Tr bị một nhóm thanh niên đi sau có hành vi sàm sỡ dẫn đến hai bên có lời qua tiếng lại và xảy ra cãi nhau. Sau đó C đi ra bãi xe, nhìn thấy con dao trong ngăn bàn gần chỗ bảo vệ (dài khoảng 8 -10 cm, lưỡi dao dài khoảng 15 -20 cm, bề rộng khoảng 5 - 8 cm), C lấy con dao chạy lại đâm vào một nam thanh niên trêu chị Tr. Lúc đó có người can ngăn nên C tiếp tục đâm người đó, do đông người nên C không nhớ đâm cụ thể vào ai, như thế nào, chỉ nhớ đâm gây thương tích cho 03 người. Vì vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Hùng C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c, d khoản 3 Điều 134 (điểm a, i khoản 1) của Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c, d khoản 3 Điều 134 (điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Hùng C với mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Ngọc T từ chối đi giám định nên không xác định được thương tích. Anh T và anh V đã nhận bồi thường mỗi người 20.000.000 đồng, hiện không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét. Anh Trịnh Quốc A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Hiện những người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h00’ ngày 17/9/2017 chị Trần Thị Huyền Tr (bạn gái C) gọi điện cho C đến quán Bar F 25 phố S, Thành phố Hà Nội để đón chị Tr về. Khi C đến quán, C ngồi uống rượu cùng bàn với anh Quốc A, chị T và chị Tr. Trong quán Bar, tại bàn số 06 có khoảng 08 người trong đó có anh Phạm Văn V, anh Nguyễn Ngọc T và một số người khác. Khoảng 02h00’ cùng ngày khi quán Bar chuẩn bị đóng cửa, anh Quốc A đứng dậy thanh toán tiền và đi ra ngoài cùng với C, còn chị T và chị Tr đi thay quần áo. Khi anh Quốc A và C đứng ở cửa quán Bar chờ chị T và chị Tr, theo lời khai của C thì nguyên nhân dẫn đến việc đánh nhau là do C nhìn thấy chị Tr bị một nhóm thanh niên đi sau có hành vi sàm sỡ dẫn đến hai bên có lời qua tiếng lại và xảy ra cãi nhau. Sau đó C đi ra bãi xe, nhìn thấy con dao (loại dao bầu) trong ngăn bàn gần chỗ bảo vệ, C lấy con dao chạy lại đâm vào một nam thanh niên. Lúc đó có người can ngăn, do hỗn loạn C không biết là ai nên đâm bừa. C đâm gây thương tích cho anh Phạm Văn V ở ngực trái và mặt sau trên cánh tay trái với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 32%; anh Trịnh Quốc A bị thương tích ở ngực phải với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 13%. Anh Nguyễn Ngọc T từ chối đi giám định nên không xác định được thương tích.

Bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm vô cớ đâm gây thương tích cho anh Phạm Văn V, anh Trịnh Quốc A. Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ.

Như vậy hành vi của bị cáo Trần Hùng C đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội và hình phạt quy định tại điểm c, d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khoẻ của công dân và trật tự an toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại - anh Nguyễn Ngọc T và anh Phạm Văn V. Anh Trịnh Quốc A không yêu cầu bị cáo bồi thường thương tích. Những người bị hại - anh Quốc A, anh T và anh V có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Hội đồng xét xử căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự ngoài thời hiệu; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian vừa có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về dân sự:

+ Người bị hại: Anh Nguyễn Ngọc T và anh Phạm Văn V đã nhận bồi thường mỗi người 20.000.000 đồng, hiện anh T và anh V không yêu cầu bồi thường gì khác nên Toà án không xét.

+ Người bị hại anh Trịnh Quốc A hiện không yêu cầu bồi thường gì nên Toà án không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: TRẦN HÙNG C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng: điểm c, d khoản 3 Điều 134 (điểm a, i khoản 1), điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

3. Hình phạt:

Xử phạt: TRẦN HÙNG C 05 (năm) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 08/03/2019.

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.


18
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 160/2019/HSST ngày 21/08/2019 về tội cố ý gây thương tích

      Số hiệu:160/2019/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:21/08/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về