Bản án 161/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 161/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2018/TLST - HS ngày 29/10/2018, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 158/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn Đ, sinh này 20/7/1983. Nơi ĐKNKTT: Tổ 18A, khu 9, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 7/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đoàn Văn T và bà Trần Thị Q. Có vợ và 02 (hai) con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 16/8/2018. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí. Có mặt.

- Người chứng kiến:

1. Anh Tiêu Văn Đ1. Nơi cư trú: Tổ 18A, khu 9, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn B. Nơi cư trú: Tổ 5, khu 3, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 10 phút ngày 16/8/2018, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an thành phố U phối hợp với Công an phường B, thành phố U làm nhiệm vụ tại tổ 18A, khu 9, phường B, thành phố U, phát hiện bắt quả tang bị cáo Đoàn Văn Đ đang cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại túi quần phía trước bên phải bị cáo đang mặc trên người 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (2x2,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, trong có sim số 0869.916.083 và số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, thu giữ:

- Tại mặt trước của khung ảnh, sau mặt tờ giấy được cài vào khung ảnh treo tường ở phòng khách có 01 (một) túi nilon, kích thước (4x6)cm và 01 (một) túi nilon kích thước (4x7)cm, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng.

- Tại phía sau ghế salon trong phòng khách 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ gắn với ống hút nhựa dài 40cm, một lỗ gắn với ống thủy tinh dài khoảng 15cm, một đầu thẳng, đầu còn lại uốn cong có bầu tròn, trong bầu có dính chất rắn dạng keo màu đen.

Kết luận giám định số 570/GĐMT ngày 18/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng thu tại túi quần phía trước bên phải của bị cáo kích thước (2x2,5)cm (Ký hiệu M1); 01 (một) túi nilon kích thước (4x6)cm, chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2); 01 (một) túi nilon kích thước (4x7)cm chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3); 01 (một) ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn, bên trong chứa chất rắn màu đen dạng vết (Ký hiệu M4). Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3, M4 là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: M1: 0,396g (không phảy ba trăm chín mươi sáu gam); M2, M3 có tổng khối lượng 1,148g (một phảy một trăm bốn mươi tám gam); M4: dạng vết, không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 15/8/2018, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda vision, biển kiểm soát (BKS) 14Y1-131.99 đến nhà anh Đoàn Trọng D (sinh năm 1989, nhà đối diện đường bê tông, thuộc phường Q, thành phố U) để mua ma túy đá về sử dụng. Đến nơi bị cáo gọi điện thoại cho D nói: “em đến rồi”, D bảo đợi một tí. Khoảng hai phút sau D mới ra mở cổng, bị cáo đưa cho D 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), D lấy từ trong người ra đưa cho bị cáo 01 (một) túi nilon kích thước (2x2,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; bị cáo kiểm tra xác định là ma túy đá và cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 17 giờ ngày 16/8/2018, bị cáo vừa lấy một ít ma túy ra sử dụng thì bị lực lượng công an đến nhà kiểm tra bắt quả tang và thu tại túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 (một) túi nilon kích thước (2x2,5)cm chứa ma túy đá, 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Đối với 02 (hai) túi ma túy để tại khung ảnh treo trong phòng khách, bị cáo khai số ma túy này bị cáo mua của D từ ngày 14/8/2018 với giá 3.700.000đ (ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) về cất giấu ở nhà để sử dụng dần.

Bản cáo trạng số 156/CT-VKSUB ngày 29/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Đoàn Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám địnhvà 01 (một) sim điện thoại số 0869.916.083; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone; trả lại bị cáo số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn Đ thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện vào ngày 16/8/2018 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 26, 27); biên bản khám xét (BL 24); phù hợp với lời khai của những người chứng kiến việc bị cáo bị bắt quả tang về hành vi cất giấu chất ma túy tại túi quần phía trước bên phải của bị cáo và tại nơi ở của bị cáo (BL 36- 43) và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đủ cơ sở khẳng định: Hồi 17 giờ 10 phút ngày 16/8/2018, tại tổ 18A, khu 9, phường B, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Đoàn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,396g (không phảy ba trăm chín mươi sáu gam) ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Khám xét nơi ở của bị cáo còn thu giữ 1,148g (một phảy một trăm bốn mươi tám gam) ma túy loại Methamphetamine. Tổng cộng số ma túy loại Methamphetamine bị cáo tàng trữ là 1,544g (một phảy, năm trăm bốn mươi tư gam), mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Đoàn Văn Đ đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp tàng trữ Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Đối với đối tượng Đoàn Trọng D là người bị cáo khai bán ma tý cho bị cáo; quá trình điều tra xác minh hiện D không có mặt tại địa phương; cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau, nên không đề cập xem xét.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước ta. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích để phục vụ cho việc nghiện chất ma túy của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo còn tiếp tay cho tệ nạn buôn bán trái phép chất ma túy ở nước ta, nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về vật chứng: Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ gắn với ống hút nhựa là công cụ bị cáo sử dụng ma túy và 01 (một) sim điện thoại số 0869.916.083 không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2018.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 570/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn; 01 (một) sim điện thoại số 0869.916.083 và 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, trên nắp chai được đục hai lỗ nhỏ, một lỗ gắn một đoạn ống hút bằng nhựa trắng dài khoảng 40cm.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone, vỏ màu trắng.

Trả lại bị cáo số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo Đoàn Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 161/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:161/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về