Bản án 16/2017/DS-PT ngày 14/07/2017 về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 16/2017/DS-PT NGÀY 14/07/2017 VỀ TRANH CHẤP VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 10/2017/TLPT- DS ngày 19 tháng 5 năm 2017 về  “Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2017/DS-PT ngày 28 tháng 6 năm2017 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Chị Tôn Nữ Thị N, sinh năm 1994;

Trú tại: Thôn L xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Q, sinh năm: 1972,

- Anh Lê Văn M; Chị Nguyễn Ngọc Giao B; Chị Cao Thị Thùy D; Anh Lê Văn T.

Cùng trú tại: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tất cả có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án tóm tắt như sau:

- Chị Tôn Nữ Thị N trình bày: Vào ngày 21/08/2015, chị N đang đứng mời khách để bán quả bưởi và quả thanh trà tại quán của chị thì phía đối diện, bà Lê Thị Q chạy qua tranh giành khách nên hai bên đã xảy ra cãi nhau, sau đó phía bà Q cùng anh Lê Văn M, anh Lê Văn T, chị Nguyễn Ngọc Giao B và chị Cao Thị Thùy D là con trai và con dâu của bà Q, cùng xông vào giật tóc, dùng tay đánh vào đầu, mặt chị N khiến chị N bị thương tích.

Sau khi bị đánh chị N được đưa vào Bệnh viện Trung ương Huế để cấp cứu và điều trị. Qua 04 ngày điều trị tại khoa ngoại thần kinh và theo giấy ra viện ngày

24/08/2015 Bác sĩ chẩn đoán chị N bị “Chấn động não/gãy kín xương chính mũi”.

Ngày 02/12/2015, Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã mời các bên liên quan đến để thỏa thuận về việc bồi thường dân sự nhưng không thành.

Ngày 18/01/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự vì qua giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của chị N là 1%.

Do quyền lợi chưa được giải quyết, chị N đã có đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Q, anh M, anh T, chị D và chị B phải bồi thường tất cả các khoản chi phí cho điều trị tại bệnh viện là 16.482.500 đồng.

- Phía bị đơn bà Lê Thị Q, anh Lê Văn M, chị Nguyễn Ngọc Giao B, chị Cao Thị Thùy D và anh Lê Văn T trình bày: Vào ngày 21/08/2015 có đoàn khách vào quán bún của bà Q trước thì chị N bán quán cơm đối diện đã qua mời khách về quán của mình nên hai bên đã xảy ra cãi vã, chị N có những lời lẽ hỗn láo và thô tục đối với gia đình bà Q. Sau đó chị N đã dùng đá ném vào người chị B (con dâu bà Q). Thấy tình thế căng thẳng bà Q và mẹ của chị N đứng nói chuyện phải trái thì chị N quay sang cào xé áo và chụp đứt dây chuyền của bà Q, buộc bà Q phải phản ứng lại chụp tóc chị N thì lúc này chị N mới thả bà Q ra, sau đó được gia đình hai bên vào can ngăn. Sau khi sự việc xảy ra thì ông Lê Tuấn chồng bà Q có đến bệnh viện để thăm hỏi nhưng không gặp chị N, đến tối cùng ngày ông T sang nhà chị N để thăm hỏi thì nhận thấy chị N không bị thương tích gì. Gia đình bà Q đã có thiện chí trả tiền viện phí, thuốc men nhưng gia đình chị N không đồng ý.

Đối với yêu cầu bồi thường của chị N thì bà Q chỉ đồng ý bồi thường các khoản chi phí có hóa đơn, chứng từ hợp lệ và chỉ bồi thường một phần thiệt hại theo tỷ lệ lỗi của mỗi bên.

Đối với anh M, chị B, chị D và anh T đều xác nhận chỉ tham gia với vai trò can ngăn việc bà Q và chị N xô xát lẫn nhau chứ không hề gây thiệt hại gì cho chị N nên không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại cho chị N.

Ngày 12/4/2017 Tòa án nhân dân thị xã H đã đưa vụ án ra xét xử và quyết định như sau:

Căn cứ vào các Điều 66, 604, 605, 606 và 609 Bộ luật Dân sự 2005; Các Điều 35, 39, 220, 227, 228, 264, 266 và 267 Bộ luật tố tụng dân sự. Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Buộc bà Lê Thị Q, anh Lê Văn M, Chị Nguyễn Ngọc Giao B, Cao Thị Thùy D và anh Lê Văn T phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền: 7.582.500đ, theo phần :

- Bà Lê Thị Q, anh Lê Văn M, chị Nguyễn Ngọc Giao B, chị Cao Thị Thùy D, anh Lê Văn T phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho chị Tôn Nữ Thị N mỗi người số tiền 1.516.500 đồng; ( Riêng anh Tân do chưa đủ 18 tuổi nên người giám hộ là ông Lê Văn T và bà Lê Thị Q phải bồi thường thay ).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quy định về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/4/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H có Quyết định kháng nghị với nội dung như sau:

Kháng nghị Bản án dân sự số 05/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã H theo thủ tục phúc thẩm.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà Lê Thị Q phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và tổn thất về tinh thần cho chị Tôn Nữ Thị N. Đồng thời xác định anh M, chị B, chị D, anh T không phải là bị đơn trong vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Đại diện Viện Kiểm sát cho rằng; Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các bên đương sự đều tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự, không vi phạm gì cần phải kiến nghị khắc phục

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà Q phải chịu toàn bộ trách nhiệm bồi thường cho chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1]. Ngày 21/8/2015, giữa chị Tôn Nữ Thị N và gia đình bà Lê Thị Q có mâu thuẫn là do việc tranh giành khách hàng, dẫn đến xô xát lẫn nhau. Hậu quả chị N bị chấn động não/gãy kín xương chính mũi, tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 01%. Qua quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Công an thị xã H đã quyết định không khởi tố vụ án hình sự mà lập biên bản vi phạm hành chính và phạt tiền 2.500.000đồng đối với bà Q.

Như vậy hậu quả gây tổn hại sức khỏe cho chị N là hoàn toàn thuộc về bà Q, còn những người con và dâu của bà Q là anh M, chị B, chị D, anh T thì không có căn cứ nào xác định họ đã trực tiếp tham gia gây thương tích cho chị N và Công an thị xã H cũng không xử lý gì đối với họ. Do đó Hội đồng xét xử thấy nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H về phần này là có cơ sở.

Hơn nữa trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa phúc thẩm bà Q xác định bà là người trực tiếp gây thương tích cho chị N và bà đồng ý bồi thường cho chị N toàn bộ số tiền là 7.582.500đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc. Đây là tình tiết mới nên chấp nhận để sửa một phần bản án sơ thẩm.

[2]. Về tố tụng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh M, chị B, chị D, anh T bị đơn là chưa chính xác. Hội đồng xét xử thấy rằng theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định tư cách của đương sự tham gia tố tụng như sau:“ Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện…”. Như vậy trên cơ sở đơn khởi kiện của nguyên đơn thì tòa sơ thẩm xác định bà Q, anh M, chị B, chị D, anh T đều là bị đơn trong vụ án là đúng, nên không chấp nhận kháng nghị phần này của Viện kiểm sát để sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm tính lại cho phù hợp pháp luật. Bà Lê Thị Q phải chịu toàn bộ là 7.582.500đồng. x 5% =379.125đồng. Anh M, chị B, chị D, anh T không phải chịu.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 604, Điều 609 Bộ luật Dân sự 2005;

[1]. Buộc bà Lê Thị Q phải bồi thường cho chị Tôn Nữ Thị N toàn bộ số tiềnlà: 7.582.500đồng.

[2]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Q phải chịu 379.125đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chưa thi hành.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


94
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về