Bản án 16/2017/HNGĐ-ST ngày 13/07/2017 vể không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh Q

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 16/2017/HNGĐ-ST NGÀY 13/07/2017 VỂ KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG GIỮA CHỊ T VÀ ANH Q

Ngày 13 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2016/TLST- HNGĐ ngày 12/12/2016 về việc Tranh chấp về hôn nhân gia đình - không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2017/ QĐXX-ST ngày 05 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Tổ 18, phường Đ, T.p H, tỉnh HB.

2. Bị đơn: Anh Cao Thế Q, sinh năm 1964. Nơi cư trú: tổ 18, phường Đ, T.p H, tỉnh HB. Chị T có mặt, anh Q vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/12/2016 và các lời khai trong quá trình tố tụng, Nguyên đơn là chị Vũ Thị T trình bày:

Năm 1991, chị và anh Q nảy sinh tình cảm và được gia đình hai bên đồng ý tổ chức cưới hỏi theo phong tục, sau đó anh chị chung sống với nhau tại số nhà 4, ngõ 23, đường T thuộc tổ 18, phường Đ, thành phố H và từ đó đến nay anh chị chưa lần nào đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Qúa trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Cao Thành L, sinh ngày 06/3/1994 và Cao Thị Thu L, sinh ngày 15/4/1999, nay các cháu đã thành niên do đó chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Cao Thế Q nhưng anh Q từ chối nhận, đề nghị không tiến hành hòa giải và không tới Tòa án để làm việc. Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2017, anh Qxác nhận anh và chị Vũ Thị T chung sống từ năm 1992 đến nay tại tổ 18, phường Đ, thành phố H, tỉnh HB. Hai bên sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn theo quy định. Nay chị Tươi đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng, anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: có 02 con chung như chị T trình bày, hiện các cháu đang ở với anh. Anh có trách nhiệm nuôi các con không yêu cầu chị Tphải đóng góp gì. Về tài sản chung: tự thỏa thuận. Nợ chung: không có.

Do chị Vũ Thị T và anh Cao Thế Q chung sống như vợ chồng, các bên cũng không xuất trình được chứng cứ tài liệu nào chứng minh cho việc kết hôn do đó việc Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vũ Thị T và anh Cao Thế Q. Về con chung: tại thời điểm xét xử các cháu đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết. Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không đề cập. Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng dân sự: Chị Vũ Thị T và anh Cao Thế Q không có đăng ký kết hôn theo quy định của điều 9 Luật Hôn nhân gia đình, nay chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Q, căn cứ khoản 8 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

Anh Q đã được Tòa án được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Q và chị T có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng từ năm 1992 đến nay, mặc dù việc chung sống này được gia đình hai bên đồng ý và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tuy nhiên không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ giữa chị T và anh Q không phải là quan hệ hôn nhân và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Q và chị Tươi.

[3] Về con chung: Anh chị có hai con chung tên là Cao Thành L, sinh ngày 06/3/1994 và Cao Thị Thu L, sinh ngày 15/4/1999. Đến nay, các cháu đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng tự nuôi sống bản thân nên Tòa không xem xét giải quyết về vấn đề con chung.

[4] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có.

[6] Về án phí: Chị Tươi phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 và khoản 1 Điều 28 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Vũ Thị T và anh Cao Thế Q là vợ chồng.

- Về án phí: Chị T phải chịu 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo biên lai số 0002973 ngày 12/12/2016, nay được đối trừ.

Chị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp tống đạt hợp lệ bản án.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2017/HNGĐ-ST ngày 13/07/2017 vể không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh Q

Số hiệu:16/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình - Hoà Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về