Bản án 16/2017/HNGĐ-ST ngày 24/07/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH  NGHỆ AN

BẢN ÁN 16/2017/HNGĐ-ST NGÀY 24/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 24 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2017/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2017 về  ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:104/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1993

Địa chỉ: Xóm 5, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn:Anh Hồ Văn D, sinh năm 1988

Địa chỉ: Xóm 5, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Đào Thị H, sinh năm 1956 (mẹ đẻ anh D). Địa chỉ: Xóm 5, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trình bày tại Tòa án, nguyên đơn chị Đào Thị H trình bày: Chị và anh Hồ Văn D lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 9 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống luôn xẩy ra mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau.Từ năm 2013 đến nay vợ chồng sống ly thân người một nơi, không ai quan tâm đến nhau. Nay tình cảm không còn chị xin được ly hôn anh D. Về con, vợ chồng có 01 con chung là Hồ Trọng Gia B, sinh ngày 16/7/2013, con đang ở với chị. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Về tài sản, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Văn D vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập đến trụ sở Tòa án để tham gia giải quyết vụ án nhưng anh đều vắng mặt, không có ý kiến bằng văn bản không có lời khai gửi Tòa án.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ: Bà Đào Thị H (mẹ đẻ anh D) trình bày: Chị H và anh D tự nguyện lấy nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã Q. Sau ngày cưới vợ chồng ở với gia đình bà, đến tháng 10/2013 vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn chị H bỏ về bên ngoại sống, không ai quan tâm đến nhau nữa.Vợ chồng anh D có 01 con chung đang ở với chị H, tài sản chung không có. Bà đề nghị Tòa án cho chị H, anh D ly hôn và giao con chung cho chị H nuôi dưỡng.

Xác minh tại UBND xã Q, bà Lê Thị T (Chủ tịch Hội phụ nữ xã) cho biết: Chị H, anh D kết hôn hợp pháp, do tính cách không hợp hai người sống ly thân từ năm 2013 đến nay, đề nghị Tòa án xử cho họ ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Cháu B ở với chị H từ nhỏ phát triển khỏe mạnh, đề nghị Tòa án giao cho chị H trực tiếp nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Đề nghị áp dụng điều 56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Xử cho chị Đào Thị H được ly hôn với anh Hồ Văn D. Về con: Giao cháu Hồ Trọng Gia B, sinh ngày 16/7/2013 cho chị Đào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh D vì chị H không yêu cầu.Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên miễn xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về thủ tục tố tụng:Tại phiên tòa bị đơn anh Hồ Văn D vắng mặt không có lý do, đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu đề nghị xét xử vắng mặt anh D. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng cho anh Hồ Văn D nhưng anh cố tình vắng mặt, không hợp tác. Qua hai lần tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử anh D vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

[1]  Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp vì tuân thủ các điều kiện, thủ tục kết hôn do luật định. Quá trình chung sống do tính cách không hợp, xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến nhau nữa thể hiện tình cảm giữa vợ chồng không còn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần báo anh D đến để giải quyết nhưng anh thiếu hợp tác, thường xuyên vắng mặt nên vụ án không hòa giải được. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung cùng nhau được nên xử cho chị H được ly hôn anh D.

[2]  Về quyền nuôi con chung:  Căn cứ giấy khai sinh và kết quả xác minh thì chị H và anh D có 01 con chung là Hồ Trọng Gia B hiện đang ở với mẹ, phát triển khỏe mạnh. Ly hôn chị H xin được nuôi con là nguyện vọng chính đáng. Bà H (mẹ anh D) và đại diện Hội phụ nữ xã Q cũng đề nghị giao cháu B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cần giao cháu B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh D. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[3]  Về chia tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết về tài sản nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51,56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 227, 228, 147, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đào Thị H và anh Hồ Văn D.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Hồ Trọng Gia B, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2013 cho chị Đào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hồ Văn D vì chị H không yêu cầu.

2.3. Anh Hồ Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết,Tòa án không giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí:  Chị Đào Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, theo biên lai thu tiền số 0004555 ngày 11 tháng 4 năm 2017.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2017/HNGĐ-ST ngày 24/07/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:16/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về