Bản án 16/2018/HSST ngày 05/02/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 16/2018/HSST NGÀY 05/02/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 05/02/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huỵên Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2018/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh ngày 19/6/1988 tại: huyện C, tỉnh Bắc Cạn. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã EP, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Tiền án, tiền sự: không; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 và con bà Lôi Thị Đ, sinh năm 1966, hiện trú tại: Thôn B, xã EP, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có vợ tên Trần Thị N, sinh năm 1996. Bị cáo có một con sinh năm 2015. Hiện vợ và con bị cáo đang sinh sống tại thôn B, xã EP, huyện EK, tỉnh Đăk Lăk. Bị cáo được tại ngoại theo Quyết định cho bảo lĩnh số 35 ngày 31/10/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện EK (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Y P. Sinh năm: 1994 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Y W – Sinh năm: 1965 (Có mặt) Bà H N – Sinh năm 1965 (Có mặt)

Đều cư trú tại: Buôn 1, xã CP, huyện EK, tỉnh Đăk Lăk.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T (Có mặt).

Cư trú tại: Thôn B, xã EP, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/7/2017, Nguyễn Văn C (có bằng lái xe hạng A1) mượn xe mô tô biển số 47F1 – 206.60 của ông Nguyễn Văn T (là bố đẻ của C) để đi đám cưới ở thôn B, xã EP. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô biển số 47F1 – 206.60 lưu thông trên đường liên xã EP đi xã CP theo hướng từ xã EP đi xã CP. Khi đi đến đoạn đường Km01+700 đường liên xã EP đi CP thuộc thôn B, xã EP, huyện EK, tỉnh Đăk Lăk thì Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô chạy lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên đã tông vào xe mô tô biển số 47F1 – 360.14 do Y P điều khiển. Hậu quả: Nguyễn Văn C và Y P bị thương phải đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, 02 xe mô tô bị hư hỏng. Đến ngày 22/7/2017, Y P tử vong khi đang cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk.

Tại bản kết luận pháp y tử thi số 336/PY – T.Th ngày 10/8/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đăk Lăk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của Y P Byă là choáng chấn thương.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 03 ngày 01/12/2017 của HĐĐGTS tố tụng hình sự số 992 Ủy ban nhân dân huyện EK, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 47F1 – 206.60, số máy 152FMFH 018683, số khung HLMM5108683 là 1.550.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 47F1 – 360.14 số máy 5C6H2266836, số khung C6H0GY266826 là 3.170.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 47F1-206.60, số máy 152FMFH018683, số khung HLMM5108683, màu sơn xanh, nhãn hiệu KWA; 01 xe mô tô biển số 47F1-360.14, số máy  5C6H266836, màu xanh bạc, nhãn  hiệu YAMAHA.

Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo Nguyễn Văn C đã bồi thường về dân sự cho gia đình của bị hại Y P số tiền 130.000.000 đồng. Gia đình bị hại Y P không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự. Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường giá trị thiệt hại của xe mô tô 47F1 – 206.60 bị hư hỏng.

Tại bản cáo trạng số 04/KSĐT-HS, ngày 03 tháng 01 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Khoản 1, Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.

Qua phần thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/7/2017, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô biển số 47F1 – 206.60 lưu thông trên đường liên xã EP đi CP theo hướng từ xã E P đi xã CP. Khi đi đến đoạn đường Km01+700 đường liên xã EP đi CP thuộc thôn B, xã EP, huyện EK, tỉnh Đăk Lăk thì Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô chạy lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên đã tông vào xe mô tô biển số 47F1-360.14 do Y P điều khiển. Hậu quả: Anh Y P tử vong; 02 xe mô tô bị thiệt hại là 4.720.000đồng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện EK giữ quyền công tố Nhà nước, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EK trả lại 01 xe mô tô biển số 47F1 – 206.60, số máy 152FMFH018683, số khung HLMM5108683, màu sơn xanh, nhãn hiệu KWA cho ông Nguyễn Văn T, là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô biển số 47F1 – 360.14, số máy 5C6H266836, số khung C6H0GY266826, màu xanh bạc, nhãn hiệu YAMAHA cho ông Y W là người đại diện theo pháp luật của Y P.

Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 600123807995 mang tên Nguyễn Văn C, cấp ngày 24/8/2016, có giá trị không thời hạn cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo Nguyễn Văn C đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), gia đình người bị hại làm đơn bãi nại, người liên quan ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo Nguyễn Văn C không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện người bị hại ông Y W, bà H’N không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn C.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T không có yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,  bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận lỗi do bị cáo điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, vi phạm Điều 9 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 nên đã va chạm với xe mô tô do anh điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả: Anh Y P tử vong; 02 xe mô tô bị thiệt hại là 4.720.000đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hành vi của bị cáo đã phạm vào tộị

Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 202 BLHS.

Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự quy định:

“ 1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.”

Vận dụng điều luật nêu trên đối chiếu hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX áp dụng mức hình phạt sao cho thỏa đáng để vừa đề cao được tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời qua đó giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn khi tham gia lưu thông trên đường bộ. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương.

Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, bị cáo đã được học luật giao thông đường bộ và đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1 nên khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ. Mặc dù nhận thức được điều đó nhưng bị cáo khi tham gia giao thông đã điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường nên đã gây tai nạn làm anh Y P tử vong, thiệt hại về tài sản là 4.720.000đồng. Với hành vi nêu trên của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra và được người đại diện hợp pháp của người bị hại viết đơn bãi nại, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật.

Vì vậy, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với vai trò và tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo Nguyễn Văn C đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000đồng. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại và người liên quan ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[4] Vật chứng thu giữ: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EK trả lại 01 xe mô tô biển số 47F1 –206.60, số máy 152FMFH018683, số khung HLMM5108683, màu sơn xanh, nhãn hiệu KWA cho ông Nguyễn Văn T, là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô biển số 47F1 – 360.14, số máy 5C6H266836, số khung C6H0GY266826, màu xanh bạc, nhãn hiệu YAMAHA cho ông Y W là người đại diện theo pháp luật của Y P.

Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 600123807995 mang tên Nguyễn Văn C, cấp ngày 24/8/2016, có giá trị không thời hạn cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 1, Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến để giải quyết.

*Về vật chứng thu giữ: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EK trả lại 01 xe mô tô biển số 47F1 –206.60, số máy 152FMFH018683, số khung HLMM5108683, màu sơn xanh, nhãn hiệu KWA cho ông Nguyễn Văn T, là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô biển số47F1 – 360.14, số máy 5C6H266836, số khung C6H0GY266826, màu xanh bạc, nhãn hiệu YAMAHA cho ông Y W là người đại diện theo pháp luật của Y P.

Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 600123807995 mang tên Nguyễn Văn C, cấp ngày 24/8/2016, có giá trị không thời hạn cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp.

* Về án phí: Áp dụng khoản 1, Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2018/HSST ngày 05/02/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:16/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea Kar - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về