Bản án 16/2018/HSST ngày 19/04/2018 về tội cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 16/2018/HSST NGÀY 19/04/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH VÀ CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2017/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HS, ngày 22/01/2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1980;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn AL B, xã AK, thành phố T Q, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 05/12;

Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị Bích S (đã chết); Anh, chị, em ruột: có 05 anh chị em, bị cáo là thứ tư; Vợ: Từ Thị Hải Y, sinh năm 1981; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014;

* Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/6/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T Q; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Ngọc Q - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư PC, Đoàn Luật sư thành phố HN; có mặt.

Người bị hại:

- Chị Lê Thị H, sinh năm 1973;

- Anh Đỗ Quyết C, sinh năm 2001;

Người giám hộ cho anh C: Anh Đỗ Mạnh H, sinh năm 1964;

Cùng trú tại: Thôn SL 7, xã AT, thành phố T Q, tỉnh T Q.

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho chị Lê Thị H và anh Đỗ Quyết C: Ông Phạm TA - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ.

- Chị Đỗ Lê H N1, sinh năm 1996;

Nơi ĐKHKTT: Thôn SL 7, xã AT, thành phố T Q, tỉnh T Q. Chỗ ở: Số 59, SN, phường ĐT, quận BTL, thành phố HN. (chị H, anh C, anh H, chị N1, luật sư TA đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 15/6/2017, Nguyễn Xuân T trú tại thôn AL B, xã AK, thành phố T Q, tỉnh T Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22H7-3947 đến nhà nghỉ Nhật Cường tại tổ 3, thị trấn TB, huyện Yên Sơn, tỉnh T Q gặp chị Lê Thị H, trú tại thôn SL 7, xã AT, thành phố T Q là chủ nhà nghỉ, yêu cầu chị H trả tiền sơn và công sơn nhà. Khi đến nơi, thấy chị H đang ngồi ở quầy lễ tân, T yêu cầu chị H trả tiền, chị H lấy số tiền 3.000.000 đồng ra trả cho T nhưng T không cầm và yêu cầu chị H trả đủ số tiền như đã hẹn trước đó, chị H không đồng ý. Hai bên lời qua tiếng lại, không thống nhất được việc trả nợ, T tức giận bỏ đi về. Khi T về đến km 14 đường T Q - HN thì rẽ vào trạm xăng mua xăng, lúc này T đã nảy sinh ý định mua xăng đến đe dọa, ép chị H phải hẹn ngày trả tiền nợ, T đi đến cửa hàng của bà Phạm Thị Mơ trú tại thôn 6, xã Đội Cấn, thành phố T Q mua 01 nhai nhựa loại 1,5 lít và 01 chiếc bật lửa gas, T cất chiếc bật lửa vào túi quần bên trái sau đó vào cây xăng mua 25.000 đồng tiền xăng, T để chai xăng ở giá để hàng của xe mô tô BKS: 22H7-3947 và điều khiển xe quay lại nhà nghỉ Nhật Cường. T yêu cầu chị H hẹn một ngày nhất định để trả tiền, chị H không đồng ý, T ra xe lấy chai xăng quay vào trong nhà nghỉ vừa đi vừa vặn mở nắp chai, khi đến quầy lễ tân nơi chị H đang ngồi, tay phải T cầm chai xăng đã mở nắp đặt lên bàn quầy lễ tân và nói: “Nếu chị không hẹn em ngày chính xác trả tiền, em sẽ đốt nhà chị”. Thấy vậy, Chị H liền dùng hai tay đẩy T ra, T dùng chai xăng gạt ngang đập vào tay chị H làm xăng trong chai nhựa bắn ra ngoài dính vào người chị H, quầy lễ tân; máy tính xách tay và dính vào chân cháu Đỗ Quyết C, sinh năm 2001 (con trai chị H) đang ngồi ở sau quầy lễ tân. Chị H tiếp tục đẩy T ra đến giữa phòng khách, lúc này cháu C chạy ra cùng chị H đẩy T ra phía ngoài cửa chính, T vẫn cầm chai xăng vừa lùi vừa gạt đỡ lại làm xăng ở trong chai nhựa vẫn tiếp tục chảy ra nền nhà. Khi bị đẩy đến góc nhà bên trái hướng từ trong ra ngoài thì T dùng tay trái lấy chiếc bật lửa ở trong túi quần ra bật lửa làm lửa cháy bùng lên người chị H, cháu C và cả người T, lửa cháy làm hỏng chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS của chị Đỗ Lê H N1 (là con gái chị H), T bỏ chai xăng lại chạy ra ngoài cửa, cởi bỏ chiếc áo đang mặc đã bị cháy rồi điều khiển xe bỏ đi. Hậu quả chị H, cháu C bị bỏng được người dân đưa đi bệnh viện cấp cứu, điều trị. Nguyễn Xuân T sau khi phạm tội đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Sơn đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định số: 3061/C54(P4) ngày 20/7/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Trong 01 vỏ chai nhựa đã cháy biến dạng do nhiệt ghi thu tại hiện trường (trên nền gian khách nhà nghỉ Nhật Cường) gửi giám định có tìm thấy các hydrocacbon của dầu khoáng (xăng, dầu điêzen). Xăng, dầu điêzen là nhiên liệu dễ bắt cháy khi tiếp xúc với ngọn lửa hoặc tia lửa.

Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số: 124/2017/TgT ngày 21/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh T Q, kết luận:Tỷ lệ tổn thương đối với chị Lê Thị H do bỏng gây nên hiện tại là 68%, tỷ lệ tổn thương cơ thể do phẫu thuật lấy da 12%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thị H là 72% (Bảy mươi hai phần trăm) theo phương pháp cộng lùi. Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số: 95/2017/TgT ngày 21/6/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh T Q, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Đỗ Quyết C là: 3% (Ba phần trăm).

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 45 ngày 12/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Sơn kết luận: Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Model X554LA-XX1077D màu đen tại thời điểm tháng 6/2017 giá trị còn lại là: 5.526.000 đồng. Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 64 ngày 19/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Sơn kết luận: Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Model X554LA-XX1077D màu đen, giá trị còn lại là: 750.000 đồng.

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 chai nhựa đựng xăng đã bị cháy biến dạng; 01 bật lửa ga vỏ màu trắng, dung dịch ga màu đỏ; 01 áo sơ mi; 01 áo vải nữ màu đỏ, 01 quần vải nữ màu đỏ đã bị cháy biến dạng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, 01 dây và sạc pin máy tính xách tay; tạm giữ 01 điện thoại di động màu vàng đen, có bàn phím, trên thân máy có ghi chữ VERTU, phía sau có ghi chữ VERTU; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại máy có bàn phím; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu sơn trắng đã qua sử dụng; 01 xe môtô nhãn hiệu MAJESTY biển kiểm soát 22H7-3947. Ngày 18/8/2017 và 17/10/2017 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Lê Thị H 01 điện thoại di động trên thân máy có ghi chữ VERTU; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, 01 dây và sạc pin máy tính xách tay. Chiếc chai nhựa đựng xăng quá trình lấy mẫu dung dịch chất lỏng trong chai để giám định, Viện khoa học kỹ thuật hình sự - Bộ Công an đã sử dụng hết để giám định, không hoàn lại mẫu vật. Các vật chứng khác chuyển theo hồ sơ vụ án chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ngay sau khi xảy ra, Nguyễn Xuân T đã tác động gia đình hỗ trợ, bồi thường cho chị Lê Thị H và đại diện gia đình chị H số tiền 4.000.000 đồng. Chị H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền chi phí khám chữa bệnh là 628.689.739 đồng. Cháu C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chi phí khám chữa bệnh là 35.463.000 đồng. Chị N1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại chiếc máy tính xách tay bị làm hư hỏng. Hiện bị cáo chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 73/QĐ-KSĐT ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh T Q đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu, thương tích của chị Lê Thị H là do bị cáo gây ra, những tài sản bị cháy và hư hỏng đều là do bị cáo đốt. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của người bị hại. Bị cáo đồng ý với bản kết luận pháp y về thương tích của người bị hại, đồng ý với kết luận định giá tài sản, không đề nghị giám định và định giá lại.

Người bị hại chị Lê Thị H trình bày: Chị và bị cáo T quen biết nhau qua việc chị thuê bị cáo và em trai của bị cáo sơn nhà cho chị. Bị cáo T đã gây thương tích cho chị là 72% sức khoẻ. Chị yêu cầu bị cáo T bồi thường cho chị số tiền là 679.765.857 đồng.

Cháu Đỗ Quyết C khẳng định ngày 15/6/2017 bị cáo T có đến nhà anh, giữa mẹ anh (chị H) và bị cáo T có trao đổi với nhau về tiền công sơn nhà, do không đồng ý với số tiền chị H đưa, bị cáo T đã mua xăng đến nhà anh đốt khiến mẹ anh thường tích 72% sức khoẻ, tôi 3% sức khoẻ. Cháu C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 35.463.000 đồng.

Bị hại và người đại diện hợp pháp của cháu C đề nghị HĐXX xem xét những khoản tiền yêu cầu bồi thường có căn cứ thì giải quyết.

Chị N1 trình bày chị bị cháy 01 máy tính xách tay do bị cáo T gây ra. Chị đề nghị bị cáo T bồi thường cho chị giá trị chiếc máy tính xách tay là 4.776.000 đồng.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên hành vi phạm tội, tội danh, điều khoản đã truy tố bị cáo; đề nghị HĐXX T bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự;

Áp dụng khoản 3 Điều 134; điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; Từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt của hai tội là từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/6/2017;

Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 588, 590, 593, 357 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải bồi thường cho chị H và anh C theo quy định của pháp luật.

Về vất chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu huỷ: 01 ( một) bật lửa ga, màu trắng dung dịch ga màu đỏ; 01( một) áo sơ mi dài tay kẻ ca rô, màu trắng nâu tay áo bên phải cháy sun; 01 ( một) áo vải nữ đỏ;, 01 ( một) quần vải nữ màu đỏ đã bị cháy biến dạng.

Trả lại 01 ( một) Điện thoại di động nhãn hiệu NoKiA loại máy có bàn phím, màu đen đã qua sử dụng; 01 ( một) Điện thoại di động, màn hình cảm ứng mà u trắng số IMEL 1: 868518026761785; số IMEL 2: 868518026792087 máy đã qua sử dụng; 01 ( một) xe nô tô nhãn hiệu MJESTY, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22N2- 3947, những vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T nhưng tạm giữ lại để bảo đảm thị hành án.

Bị cáo phải chịu án phí, bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều khoản áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn. Đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm e khoản 1 Điều 51 (phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra) đối với bị cáo; áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo là khó khăn, vợ bị cáo hiện đang làm thuê, hai con bị cáo đang được gửi về nhà ông bà ngoại ở tỉnh Hà Nam để xem xét về phần dân sự đối với bị cáo và cho bị cáo mức án thấp để bị cáo sớm trở về giúp ích cho gia đình và xã hội.

Luật sư TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 “Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét mức bồi thường theo yêu cầu của người bị hại (theo bảng kê người bị hại đã nộp cho Toà án).

Viện kiểm sát không nhất trí áp dụng điểm e khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo vì trong tình huống này người bị hại không có lỗi, bị cáo mang xăng đến doạ đốt nhà bị hại, bị hại ra đẩy bị cáo là đúng với tâm lý bảo vệ tính mạng và sức khoẻ của bị hại. Theo quy định tại điểm b khoản 1 công văn 04, ngày 09/01/2018 của Toà án nhân dân tối cao, việc luật sư TA đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 134 là không phù hợp. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình bị hại. Xin HĐXX xử bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Ngoài lời khai nhận tội, hành vi phạm tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 15/6/2017, tại nhà nghỉ Nhật Cường thuộc tổ 3, thị trấn TB, huyện Yên Sơn, tỉnh T Q, Nguyễn Xuân T trú tại thôn AL B, xã AK, thành phố T Q, tỉnh T Q đã có hành vi dùng xăng và bật lửa đốt cháy gây thương tích cho chị Lê Thị H tổn hại 72% (Bảy mươi hai phần trăm) sức khỏe; cháu Đỗ Quyết C tổn hại 03% (Ba phần trăm) sức khỏe; Có hành vi đốt làm hư hỏng một phần của chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Model X554LA-XX1077D màu đen với giá trị thiệt hại là 4.776.000 đồng (Bốn triệu bẩy trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng) của chị Đỗ Lê H N1 cùng trú tại thôn SL 7, xã AT, thành phố T Q, tỉnh T Q. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện yên Sơn truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 104 của Bộ luật hình sự và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Đối với hành vi Cố ý gây thương tích: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ xăng là chất cháy, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ con người và nhiều tài sản khác. Nhưng chỉ vì người bị hại chưa trả tiền sơn nhà cho bị cáo mà bị cáo nảy sinh ý định dùng xăng để buộc chị H hẹn thời gian trả tiền, dẫn đến việc bị cáo đốt làm chị H thương tích 72% sức khoẻ, anh C thương tích 3% sức khoẻ.

Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo đã dùng chất cháy làm hư hỏng tài sản, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường kỷ cương pháp luật, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại mà còn gây tổn hại về tinh thần cho bị hại và gia đình, gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả do bị cáo gây ra, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đến Cơ quan Công an đầu thú. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo. Hơn nữa, theo quy định tại điểm b khoản 1 Nghị quyết 04/TANDTC-PC, ngày 09 tháng 01 năm 2018 về việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết 41 của Quốc hội: Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích. Theo Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội Cố ý gây thương tích thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nhẹ hơn khung hình phạt quy định về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, có khung hình phạt từ 05 năm đến 15 năm.

Như vậy, căn cứ vào tỷ lệ thương tật, tài sản bị thiệt hại và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và chính sách hình sự mới của Nhà nước theo hướng có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên toà là phù hợp.

[6]. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm e khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. HĐXX thấy rằng đề nghị của Luật sư là không phù hợp: bị hại thấy bị cáo mang xăng đến doạ đốt nhà bị hại nên bị hại ra đẩy bị cáo là đúng với tâm lý của con người muốn bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản của mình. Hơn nữa, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết xăng là chất cháy gây nguy hiểm mà bị cáo vẫn cố tình mua xăng đến để doạ chị H dẫn đến hai bên xô xát, bị cáo lấy bật lửa ra đốt làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, tài sản của chị H và gia đình nên HĐXX không chấp nhận đề nghị của Luật sư.

Luật sư TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 “Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” đối với bị cáo. Đề nghị của Luật sư không đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Công văn 04, ngày 09/01/2018 của Toà án nhân dân tối cao về việc áp dụng quy định pháp luật có lợi cho bị cáo nên HĐXX không chấp nhận.

[6]. Về bồi thường dân sự: Tại phiên toà, bị hại là chị Lê Thị H yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân T bồi thường các khoản tổng cộng là 679.765.857 đồng, trong đó gồm:

Chi phí điều trị đợt 1:

1. Tiền thuê ô tô đi lại 10 lần x 1.000.000đ/1 lần =10.000.000 đồng;

2. Tiền ăn và bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ 40 ngày x 200.000đ/ ngày = 8.000.000 đồng;

3. Chi phí điều trị BHYT không thanh toán ghi trong bệnh án: 49.082.758 đồng;

- Chi phí mua thuốc tại nhà thuốc bệnh viện: 104.267.623 đồng;

- Chi phí 20% BHYT có hoá đơn đỏ: 48.076.118 đồng;

4. Chi phí BHYT thanh toán khi trả, nhưng gia đình chị H phải bỏ tiền hàng năm mua BHYT;

- Chi phí BHYT: 240.350.588 đồng;

- Khám bệnh BHYT khi bị xâm hại sức khoẻ: 12.988.800 đồng

5. Tiền thu nhập thực tế của 40 ngày công lao động bị mất x 150.000đ = 6.000.000 đồng.

6. Tiền thu nhập 80 ngày công lao động thực tế bị mất của 02 người chăm sóc 150.000đ = 12.000.000 đồng.

7. Tiền thuê nhà trọ, tàu xe đi lại của người chăm sóc là: 10.000.000 đồng;

8. Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần là: 60.000.000 đồng.

Chi phí điều trị đợt 2:

1. Thời gian điều trị 1 tháng là 100.000.000 đồng;

2. Công lao động thực tế bị mất 30 ngày x 150.000đ = 4.500.00 đồng;

3. Tiền ăn bồi dưỡng sức khoẻ 30 ngày x 200.000đ = 6.000.000 đồng;

4. Tiền công 1 người phục vụ chăm sóc 30 ngày x 150.000 đồng = 4.500.000 đồng.

5. Tiền ăn, đi lại thuê nhà trọ phục vụ 01 tháng của 01 người chăm sóc: 4.000.000 đồng.

Tổng cộng 02 đợt điều trị: 679.765.857 đồng.

Bị hại Đỗ Quyết C yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân T bồi thường các khoản chi phí bao gồm:

- Tiền thuốc 463.600 đồng;

- Tiền ăn và bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ 10 ngày x 200.000đ = 2 .000.000đ - Tiền thu nhập 10 ngày công lao động thực tế bi mất x 150.000đ = 1.500.000đ - Tiền tổn thất tinh thần 30.000.000đ

Tổng cộng là 33.963.600 đồng.

HĐXX xét thấy việc chị H và anh C yêu cầu bị cáo bồi thường là đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên có những yêu cầu không có hoá đơn, chứng từ và không phù hợp với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử không chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận những khoản bồi thường cho chị H như sau:

- Tiền thuốc: 104.267.613 đ + 50.095.358 đ;

- Tiền thanh toán nội trú: 320.552 đồng;

- Tiền thuê xe: 4.000.000 đồng;

- Tiền mất thu nhập: 55 ngày x 150.000 đồng = 8.250.000 đồng;

- Tiền mất thu nhập người chăm sóc: 55 ngày x 150.000 đồng = 8.250.000 đồng

- Tiền tổn thất tinh thần: 60.000.000 đồng;

- Tiền phục hồi sức khoẻ: 6.000.000 đồng;

Tổng là: 241.183.523 đồng, trừ 4.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường trước.

Bị cáo còn phải bồi thường cho chị H số tiền là 237.183.523 đồng.

Chấp nhận những khoản bồi thường cho anh C như sau:

- Tiền thuốc: 463.600 đồng;

- Tiền bồi dưỡng sức khoẻ: 1.000.000 đồng;

- Tiền công chăm sóc 750.000 đồng;

- Tiền tổn thất tinh thần 02 tháng lương cơ bản: 02 tháng x 1.300.000 đồng = 2.600.000 đồng.

Tổng là 4.813.600 đồng.

Bị hại chị Đỗ Lê H N1 yêu cầu bị cáo bồi thường 4.776.000 đồng giá trị máy tính. Yêu cầu của chị H là phù hợp, đúng với giá trị máy tính đã bị cháy nên HĐXX chấp nhận.

[6]. Về vật chứng thu giữ gồm: 01 ( một) bật lửa ga, màu trắng dung dịch ga màu đỏ; 01( một) áo sơ mi dài tay kẻ ca rô, màu trắng nâu tay áo bên phải cháy sun; 01 ( một) áo vải nữ đỏ; 01 ( một) quần vải nữ màu đỏ đã bị cháy biến dạng. Những vật chứng này không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với vật chứng là 01 ( một) Điện thoại di động nhãn hiệu NoKiA loại máy có bàn phím, màu đen đã qua sử dụng; 01 ( một) Điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu trắng số IMEL 1: 868518026761785; số IMEL 2: 868518026792087 máy đã qua sử dụng; 01 ( một) xe nô tô nhãn hiệu MJESTY. Màu sơn xanh, biển kiểm soát 22N2- 3947, những vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T nhưng tạm giữ lại để bảo đảm thị hành án.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: khoản 3 Điều 134; điểm d khoản 2 Điều 178 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Cố ý gây thương tích và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; 02 (hai) năm tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội với mức án là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/6/2017.

2. Căn cứ Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 588, 590, 593, 357 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải bồi thường cho chị Lê Thị H số tiền là 237.183.523đ (hai trăm ba mươi bảy triệu một trăm tám mươi ba nghìn năm trăm hai mươi ba đồng); bồi thường cho anh Đỗ Quyết C số tiền là 4.813.600đ (bốn triệu tám trăm mười ba nghìn sáu trăm đồng); bồi thường cho chị Đỗ Lê H N1 4.776.000đ (bốn triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).

Khoản tiền phải thi hành án, kể từ khi người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người phải thi hành án chậm trả thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ:

01 ( một) bật lửa ga, màu trắng dung dịch ga màu đỏ; 01( một) áo sơ mi dài tay kẻ ca rô, màu trắng nâu tay áo bên phải cháy sun; 01 ( một) áo vải nữ màu đỏ; 01 ( một) quần vải nữ màu đỏ đã bị cháy biến dạng.

Trả lại 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu NoKiA loại máy có bàn phím, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) Điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu trắng số IMEL 1: 868518026761785; số IMEL 2: 868518026792087 máy đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22H7- 3947 nhưng tạm giữ lại để bảo đảm thị hành án.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Sơn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, lập ngày 25/12/2017)

4. Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.339.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.

5. Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”./.


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về