Bản án 16/2019/DSST ngày 17/01/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 16/2019/DSST NGÀY 17/01/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai   vụ án thụ lý số: 63/2017/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 641/2018/QĐXXST-DS ngày 18/12/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2019/QĐST-DS ngày 07/01/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phùng Văn H

Địa chỉ:  ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hùng: ông Lê Bình A-luật sư văn phòng luật sư Lê Bình A thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn:

2.1 Bà Nguyễn Thị N

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2 Ông Nguyễn Thanh T

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.3 Ông Nguyễn Thanh L

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông T, ông L: ông Nguyễn Thanh B.

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông B: ông Phạm Minh T-luật sư văn phòng luật sư Phạm Minh T thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

2.4 Ông Nguyễn Tuấn T (chết ngày 02/5/2017)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T: Bà Nguyễn Thị N Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

3.1 Ông Nguyễn Thanh H

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Ông Nguyễn Thanh P

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

3.3 Bà Nguyễn Thanh T

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

3.4 Ông Nguyễn Thanh B

Địa chỉ: ấp 5, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Phùng Văn H trình bày:

Ngày 19/12/2015, ông H và ông Nguyễn Văn U có lập hợp đồng sang nhượng đất bằng giấy tay. Theo đó, ông U chuyển nhượng cho ông H một phần đất có diện tích 150m2  nằm trong phần đất có diện tích 1237,4m2  thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Phần đất này ông U đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 750.000.000 (bảy trăm năm mươi triệu) đồng. Ngay khi ký hợp đồng thì ông H đã đặt cọc cho ông U 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Ngày 14/10/2016, ông H và ông U tiếp tục ký hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên lập vi bằng tại văn phòng thừa phát lại huyện H. Theo đó, ông U chuyển nhượng cho ông H phần đất trên với giá 825.000.000 (tám trăm hai  mươi  lăm triệu) đồng.  Ông  H  giao  tiếp  cho  ông  U  số  tiền  là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng. Tổng cộng là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Số tiền còn lại là 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng, ông H sẽ giao cho ông U khi ông U thực hiện xong thủ tục tách thửa sang tên cho ông H. Để làm tin, ông U đã đưa ông H giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014. Ngày 11/12/2016, ông U chết. Ông H nhiều lần liên hệ với vợ con của ông U để yêu cầu giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký với ông U nhưng không được. Vì vậy ông H khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015;  hợp  đồng  đặt  cọc  và  chuyển  nhượng  quyền  sử  dụng  đất  ngày 14/10/2016. Ông  H yêu  cầu  các đồng thừa kế  của ông  U trả lại  cho  ông  H 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Ông H không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng. Ông H sẽ trả lại cho các đồng thừa kế của ông U giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014 sau khi nhận đủ số tiền trên.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh B như sau:

Ông Nguyễn Văn U có vợ là bà Nguyễn Thị N. Ông U và và bà N có tất cả 07 người con: ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Tuấn Th, ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh Th và ông Nguyễn Thanh B. Ông U được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014 đối với phần đất có diện tích 1237,4m2 thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc chuyển nhượng đất giữa ông U và Ông Phùng Văn H thì trong gia đình không ai biết cũng như không biết về số tiền mà ông H trình bày là giao cho ông U.

Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông T và ông L thì ông B không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng cũng như không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông H.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Tuấn Th như sau:

Ông Th không biết gì về việc chuyển nhượng đất và nhận tiền giữa ông H và ông U. Nên Ông Th không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng cũng như không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông H. Do bận công việc nên ông Th đề nghị vắng mặt.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H như sau:

Ông Thanh H không biết gì về việc chuyển nhượng đất và nhận tiền giữa ông Phùng Văn H và ông Nguyễn Văn U. Ông Thanh H không có ý kiến gì. Do bận công việc nên ông Thanh H đề nghị vắng mặt.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh B như sau:

Ông P, bà Th, ông B không biết gì về việc chuyển nhượng đất và nhận tiền giữa ông Phùng Văn H và ông Nguyễn Văn U. Nên ông P, bà Th, ông B không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng cũng như không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông H. Do bận công việc nên ông P, bà Th đề nghị vắng mặt.

Tại phiên tòa, ông H và luật sư A vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Tại phiên Tòa, ông B và bà N trình bày là yêu cầu hủy hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015; hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016. Ông B và bà N không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng. Ông B và bà N đồng ý trả lại số tiền mà ông U đã nhận là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Ông B và bà N yêu cầu ông H trả lại cho các đồng thừa kế của ông U giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014 sau khi nhận đủ số tiềntrên.

 Toà án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thanh B là ông Phạm Minh T vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định sau: về thẩm quyền thụ lý vụ án; về xác định tư cách tố tụng; về thu thập chứng cứ; thời hạn chuẩn bị xét xử; thủ tục hòa giải; thủ tục cấp tống đạt; thời gian gởi hồ sơ đến Viện kiểm sát.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp giữa ông Phùng Văn H và bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Tuấn T là tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 697 Bộ luật dân sự 2005, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an huyện H thì ông U có vợ là là bà Nguyễn Thị N. Ông U và và bà N có tất cả 07 người con: ông  Nguyễn  Thanh  T, ông  Nguyễn  Thanh  L, ông  Nguyễn  Tuấn  T, ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh Th và ông Nguyễn Thanh B. Còn đối với người con tên Nguyễn Văn K-3 tuổi, Tòa án đã tiến hành xác minh tại công an xã X và công an huyện H thì không thu thập được thông tin về Nguyễn Văn K. Theo lời trình bày của ông Nguyễn Thanh B thì đây là con của ông U và bà N nhưng đã chết từ nhỏ.

Đối với ông Nguyễn Tuấn T chết ngày 02/5/2017, Tòa án đã tiến hành xác minh tại công an xã X và công an huyện H thì ông T không có vợ con. Nên người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T là bà Nguyễn Thị N-mẹ ông T.

- Về nội dung vụ án: ông H yêu cầu hủy hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015 và hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016 giữa ông H và ông U. Ông H yêu cầu các đồng thừa kế của ông U trả lại cho ông H số tiền ông H đã giao cho ông U là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Ông H không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng. Ông H sẽ trả lại cho các đồng thừa kế của ông U giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014 sau khi nhận đủ số tiền trên.

Căn cứ vào hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015; hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016 có cơ sở xác định ông Phùng Văn H và ông Nguyễn Văn U có thỏa thuận chuyển nhượng một phần đất có diệntích 150m2 nằm trong phần đất có diện tích 1237,4m2 thuộc thửa 362, tờ bản đồ số8, tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Phần đất này ông U đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014. Phần đất mà ông U chuyển nhượng cho ông H vào thời điểm xác lập giao dịch vẫn chưa được tách sổ. Việc chuyển nhượng đất giữa ông H và ông U là chưa tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 689 Bộ luật dân sự 2005; điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai. Phần đất ông H và ông U thỏa thuận chuyển nhượng có diện tích 150m2, là đất trồng cây lâu năm nên không đủ diều kiện để tách thửa theo điểm a khoản 2 Điều 5

Quyết định 60 ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015; hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016 giữa ông H và ông U là vô hiệu theo quy định tại Điều 128, Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005. Tại phiên Tòa, ông B và bà N cũng yêu cầu hủy hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015; hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016 giữa ông H và ông U. Do đó yêu cầu của ông H là có cơ sở chấp nhận.

Đối với số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng thì căn cứ vào chữ ký của ông U tại hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015 và biên bản giao nhận tiền ngày 14/10/2016 có cơ sở xác định tổng số tiền ông U đã nhận từ ông H là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Ngày 08/6/2017, tại biên bản ghi nhận sự việc ông Nguyễn Thanh B cho rằng chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trong hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015 và biên bản giao nhận tiền ngày 14/10/2016 là không phải của ông U. Tòa án đã ra thông báo về việc làm thủ tục giám định và tống đạt hợp lệ cho ông B nhưng ông B không làm thủ tục giám định. Hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015; hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016 giữa ông H và ông U là vô hiệu thì ông U phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã nhận cho ông Hùng theo quy định tại khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Ông U có tài sản trong phần đất có diện tích 1237,4m2 thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014. Như vậy ông U chết có để lại di sản nên việc ông H yêu cầu các đồng thừa kế của ông U trả lại số tiền trên là có cơ sở chấp nhận. Ông Thanh H, ông P, bà Th cho rằng không biết về việc chuyển nhượng và nhận tiền giữa ông U và ông H nên không đồng ý trả tiền là không có cơ sở chấp nhận. Tại phiên Tòa, ông B và bà N đồng ý trả số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu). Số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng là nghĩa vụ của ông U nên những người thừa kế theo pháp luật của ông U gồm bà N, ông T, ông L, ông T (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà N), ông H, ông P, bà Th, ông B có trách nhiệm liên đới trả cho ông H và chỉ trả trong phạm vi di sản được hưởng.

Ông H hiện đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014 đối với phần đất có diện tích 1237,4m2  thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy ông H phải có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho các đồng thừa kế của ông U.

Tòa án đã giải thích về việc giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng chuyển nhượng nhưng ông H và các đồng thừa kế của ông U không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên không chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 128, Điều 134, Điều 637, Điều 689 và Điều 697 Bộ luật dân sự 2005;

- Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án  và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính -  Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án dân sự;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phùng Văn H:

Hủy hợp hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/12/2015 và hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2016 giữa ông Phùng Văn H và ông Nguyễn Văn U.

Buộc bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Tuấn T (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị N), ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh B phải trả lại cho ông Phùng Văn H số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng và chỉ trả trong phạm vi di sản được hưởng do ông U chết để lại. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Phùng Văn H cho đến khi thi hành án xong nếu bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Tuấn T (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị N), ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh B chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ông Phùng Văn H có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 285829 ngày 01/4/2014 đối với phần đất có diện tích 1237,4m2  thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Nguyễn Thị Nă, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Tuấn T (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị N), ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh B. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Án phí DSST là 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng, Nguyễn Thị Nă, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Tuấn T (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị N), ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Thanh B chịu. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 18.375.000 (mười tám triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng cho ông Phùng Văn H theo biên lai thu tiền số AA/2016/0030130   ngày 15/2/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư  ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


57
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về