Bản án 16/2019/HS-ST ngày 16/08/2019 về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 16/2019/HS-ST NGÀY 16/08/2019 VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Hồ Văn N, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1997 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề Nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Pa Cô; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L, sinh năm 1974 và bà Hồ Thị A Đ, sinh năm 1976; đều cư trú tại: Thôn C, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; vợ Hồ Thị D, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015 và con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đakrông từ ngày 30/5/2019. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn N: Ông Nguyễn Lương C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Bị hại: Cháu Hồ Thị U, sinh ngày 24/01/2008; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hồ A C (là mẹ đẻ của cháu U), sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị P– Trợ giúp viện pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

+ Cháu Hồ Văn M, sinh năm 2009; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của người làm chứng: Bà Hồ Thị Đ (là mẹ đẻ của cháu M), sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Anh Hồ Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Bà Hồ Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 22 giờ ngày 27/3/2019, Hồ Văn N dùng xe mô tô chở cháu Hồ Thị U, sinh ngày 24/01/2008, trú tại thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị đi tắm suối ở khu vực Cầu Tràn, giáp ranh giữa 2 xã A B và xã A N, huyện Đakrông. Khi đến bờ suối, N dựng xe, cởi áo quần dài, mặc quần đùi đi bộ cùng U xuống suối tắm và nói: “U ra đây kỳ lưng cho anh”, U đồng ý đi bộ theo N lên hướng A B khoảng 40 mét thì dừng lại và cùng nhau xuống suối. Ninh lấy 01 cục đá đưa cho Út và bảo kỳ ở vai, lưng và mông cho N, U đã làm theo; sau 02 phút U nói với N: “Thôi em không kỳ nữa, đất hết rồi” và vứt cục đá. N nói: “Thôi không kỳ nữa thì nặn mụn cho anh với”. Nói xong N nằm sấp lại, U ngồi gần bờ suối bên tay trái của N; N dùng tay phải của mình nắm tay trái của U đưa lên vùng mông của mình tại vị trí có mụn; U nói: “Mụn cứng nặn không được”; N nói: “Nặn mạnh lên nữa”; U dùng móng tay ngón cái và ngón trỏ tay trái ấn mạnh, thấy đau nên N bảo U dừng lại. N ngồi dậy, duỗi chân về phía bên tay phải của U và nói: “Tý anh cho em mười nghìn đồng”, vừa nói N vừa dùng tay phải nắm lấy cổ tay trái của U đặt lên vùng đùi phải của N và nói: “Đây mụn to hơn nữa”, không phát hiện có mụn nên U nói: “Có mụn mô”; N tiếp tục đưa tay của U lên sát vùng bẹn, đồng thời dùng tay trái kéo ống quần lót bên trái của mình lên (chưa để lộ bộ phận sinh dục) và nói: “Đây này, không thấy à” rồi tiếp tục N kéo tay trái của U đặt lên bên ngoài quần lót tại vị trí dương vật và xoa 02 lần từ dưới lên trên, nhằm thỏa mãn dục vọng; Lúc này, U cảm thấy dương vật của N cương cứng nên e thẹn, hoảng sợ và đã kéo rút tay trái, đồng thời dùng tay phải của mình đẩy tay N ra nhưng không được, do N nắm chặt cổ tay của U. N thực hiện hành vi này trong thời gian gần 01 phút và thấy có ánh sáng đèn pin nên thả tay U ra. U bỏ chạy thẳng về nhà bà Hồ Thị H, sinh năm 1975 ở gần khu vực suối; vì do quen biết và bà H thấy U có biểu hiện tâm trạng hoang mang, lo lắng, im lặng không nói gì nên bà đã cho cháu ngủ lại qua đêm. Đến hôm sau U về nhà mình vừa lo sợ, vừa khóc và kể lại mọi chuyện cho mẹ của cháu là bà Hồ A C nghe nên bà đã trình báo với Công an.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 07/4/2019 của Hồ Thị U thể hiện: Âm hộ bình thường, không có vết trầy xước; màng trinh còn nguyên vẹn.

Vật chứng thu giữ: 01 (Một) quần lót nam dạng thể thao màu đen, có viền lưng màu đỏ đã qua sử dụng.

Trách nhiệm dân sự: Hồ Văn N đã tự nguyện bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần cho cháu Hồ Thị U Người giám hộ của cháu U (Bà Hồ A C là mẹ đẻ) đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường gì thêm và làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hồ Văn N.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn N từ 05 tháng đến 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) quần lót nam dạng thể thao màu đen, có viền lưng màu đỏ đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như trong hồ sơ thể hiện và Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh Cáo trạng truy tố và các điều luật mà Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông đề nghị áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 60 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị hại cháu Hồ Thị U và người đại diện hợp pháp của bị hại bà Hồ A C có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đakrông: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Hồ Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của những người tham gia tố tụng khác, có căn cứ xác định: Ngày 27/3/2019, bị cáo Ninh dùng xe mô tô chở cháu Hồ Thị U, sinh ngày 24/01/2008 đi tắm suối ở khu vực Cầu Tràn, giáp ranh giữa 2 xã A B và xã A N, huyện Đakrông. Khi đến bờ suối, bị cáo dựng xe, cởi áo quần dài, mặc quần đùi đi bộ cùng cháu U xuống suối tắm và có hành vi dâm ô đối với cháu U, thời điểm bị dâm ô cháu Hồ Thị U mới hơn 11 tuổi. Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 07/4/2019 của Hồ Thị U thể hiện: Âm hộ bình thường, không có vết trầy xước, màng trinh còn nguyên vẹn.

Hành vi của bị cáo Hồ Văn N đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù biết cháu U dưới 16 tuổi, nhưng bị cáo đã lợi dụng nhận thức non nớt của bị hại để cố tình thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý, ảnh hưởng đến tâm lý, danh dự, nhân cách và phẩm giá của bị hại ở thời điểm hiện tại cũng như tương lai sau này, gây dư luận xấu trong xã hội, trái đạo đức. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt tù bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần cho bị hại và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) quần lót nam dạng thể thao màu đen, có viền lưng màu đỏ đã qua sử dụng.

[7] Về án phí: Bị cáo Hồ Văn N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 146; khoản 1 Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn N: 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Tch thu tiêu hủy 01 (Một) quần lót nam dạng thể thao màu đen, có viền lưng màu đỏ đã qua sử dụng.

Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đakrông và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Bị cáo Hồ Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HS-ST ngày 16/08/2019 về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Số hiệu:16/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đa Krông - Quảng Trị
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về