Bản án 162/2018/HNGĐ-ST ngày 08/10/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 162/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/10/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 508/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2018/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Giang Văn T, sinh năm 1974.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976.

Cùng địa chỉ: Số 286, tổ 4, khu 12, xã L, huyện L1, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T có mặt, bà H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2018 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Giang Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H xây dựng gia đình vào năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L1 vào ngày 05/12/1996. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó sống không hạnh phúc nhưng vẫn tiếp tục duy trì đến đến tháng 8/2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn hay cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, không nói chuyện được với nhau, không ai nghe ai nói chuyện. Sống chung một nhà nhưng không quan tâm tới ai, không có sự cảm thông chia sẽ với nhau, vợ chồng nhiều lần bàn bạc với nhau để giải quyết các mâu thuẫn nhưng không thể nói chuyện được với nhau. Ông T hiện đang làm việc và sống tại B, một tháng về nhà ở vài lần nhưng không thể nói chuyện được, vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Giang Thanh H1, sinh năm 1997, đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

* Quá trình Tòa án tiến hành tố tụng bà Nguyễn Thị H có đến Tòa án theo giấy triệu tập một lần vào ngày 20/7/2018 nhưng từ chối trình bày ý kiến.

Các tài liệu, chứng cứ trong vụ án: Đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn;

Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của ông T; giấy chứng nhận kết hôn; giấy khai sinh của cháu H1; bản tự khai của ông T; biên bản làm việc; thủ tục trưng cầu giám định; thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; biên bản xác minh tại địa phương.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn như cung cấp tài liệu, chứng cứ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai, không hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu ly hôn là có căn cứ pháp luật. Có 01 con chung tên Giang Thanh H1, sinh năm 1997. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho ông T ly hôn bà H. Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai về việc tham gia phiên tòa đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H nhưng bà H vắng mặt không có lý do, Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà H tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L1 cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 quyển số 01 ngày 05/12/1996 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự nhiều lần mục đích để ghi nhận ý kiến các bên nhằm hòa giải đoàn tụ. Bà H có đến Tòa án theo giấy triệu tập một lần vào ngày 20/7/2018 nhưng từ chối trình bày ý kiến.

Anh H1 là con trai ông T, bà H cho rằng bà H có bệnh nên tinh thần không minh mẫn, anh đề nghị Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với mẹ của mình. Ông T trình bày bà H vẫn sinh hoạt nói chuyện bình thường không có bệnh làm tinh thần không minh mẫn. Tòa án đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu của anh H1 đối với bà H nhưng sau đó anh H1 có ý kiến không yêu cầu thực hiện giám định pháp y tâm thần đối với bà H nữa và đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Từ sau khi bà H từ chối trình bày ý kiến, sau đó bà không đến làm việc theo giấy mời, thông báo của Tòa án, điều đó thể hiện bà H không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Ông T trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau, sau đó không thể nói chuyện cùng nhau, tuy sống cùng nhà nhưng không ai quan tâm đến ai và vợ chồng đã tự sống ly thân. Theo ý kiến của con trai ông T, bà H khi ba mẹ cãi nhau thì cả hai đều cố chấp không ai nhận sai về mình nên thường im lặng không nói chuyện với nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng ông T, bà H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa ông T vẫn kiên quyết xin ly hôn bà H nên áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho ông T được ly hôn với bà H là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T, xử cho ông T được ly hôn bà H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Giang Thanh H1, sinh năm 1997, đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. nhận.Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nên ghi

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; các Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Giang Văn T về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với bà Nguyễn Thị H, xử cho ông Giang Văn T được ly hôn bà Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Giang Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 002467 ngày 05/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, ông T đã nộp xong án phí.

Ông Giang Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 162/2018/HNGĐ-ST ngày 08/10/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:162/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về