Bản án 1648/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1648/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 611/2018/HNST ngày 28/12/2017 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4783/2018/QĐXX-ST ngày 17/10/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Bích T, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Thường trú: 271/22 Lê Đình C, khu phố 5, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Quốc tịch: Việt Nam

Địa chỉ: Số 02, ngách 37, hẻm 229, Chấn Hưng, quận Quy Sơn, thành phố Đào Viên, Trung Quốc (Đài Loan).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 10/11/2017 bà Đinh Thị Bích T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hải Đ kết hôn vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 05/8/2015. Sau khi kết hôn, ông Đ đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan, vợ chồng có những mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, vợ chồng sống xa cách nên không thể thông cảm, chia sẻ với nhau. Trong suốt thời gian qua vợ chồng đã tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm nhưng cũng không mang lại kết quả. Nay tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trần trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về việc nuôi con: Không có. Về chia tài sản: Không có.

Về nợ: Không có.

Tại bản tự khai ngày 21/8/2018 được Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc chứng thực chữ ký ngày 21/8/2018, ông Nguyễn Hải Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đinh Thị Bích T kết hôn vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 05/8/2015. Do có nhiều khác biệt trong quan điểm sống nên giữa ông và bà T xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nay ông xác định không còn tình cảm với vợ, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân đã quá trầm trọng nên ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T.

Về việc nuôi con: Không có. Về chia tài sản: Không có.

Về nợ: Không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm :

Ông Nguyễn Hải Đ và bà Đinh Thị Bích T có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đinh Thị Bích T:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đinh Thị Bích T đối với ông Nguyễn Hải Đ.

+ Về việc nuôi con: Không có.

+ Về chia tài sản và nợ chung: Không có.

+ Về án phí: Bà Đinh Thị Bích T phải chịu án phí 300.000 đồng theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Ngày 10/11/2017, bà Đinh Thị Bích T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ. Ông Nguyễn Hải Đ hiện đang cư trú tại Đài Loan, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn Hải Đ và bà Đinh Thị Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hải Đ và bà Đinh Thị Bích T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 05/8/2015, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông Nguyễn Hải Đ và bà Đinh Thị Bích T đều thừa nhận thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và do cuộc sống xa cách không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng cho nhau, cả hai đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Do đó, có cơ sở xác định ông Nguyễn Hải Đ và bà Đinh Thị Bích T đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị Bích T về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.

- Về việc nuôi con: Không có.

- Về chia tài sản: Không có.

- Về nợ: Không có.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Thị Bích T là nguyên đơn yêu cầu ly hôn, nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bà Đinh Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 ; khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa Án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Bích T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.

- Về việc nuôi con: Không có.

- Về chia tài sản: Không có.

- Về nợ: Không có.

2. Bà Đinh Thị Bích T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà Đinh Thị Bích T đã nộp theo biên lai số AA/2017/0048465 ngày 25/12/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đinh Thị Bích T đã nộp đủ án phí.

3. Bà Đinh Thị Bích T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; ông Nguyễn Hải Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1648/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:1648/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về