Bản án 165/2019/HNGĐ-ST ngày 12/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 165/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 12 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thái Thị H, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: Xóm 8, xã X, huyện Y, tỉnh NA. Có mặt.

Bị đơn: Anh Lưu Văn V, sinh năm: 1987; Nơi đăng ký HKTT: Thôn 1, xã T, huyện TC, tỉnh NA.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2019, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Thái Thị H trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Lưu Văn V kết hôn với nhau vào ngày 23/02/2018 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện TC, tỉnh NA. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến tháng 5/2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, vợ chồng không hiểu nhau nhau, hai bên sống ly thân từ đó đến nay.Tình cảm vợ chồng là không còn nữa chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lưu Văn V.

Về nuôi con chung:Vợ chồng chị có một chung là Lưu Thái Duy B, sinh ngày 05/10/2018, cháu ở với chị từ nhỏ đến nay. Chị Thái Thị H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Lưu Văn V cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Chị Thái Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày ngày 20/6/2019,văn bản ý kiến của bị đơn đề ngày 28/6/2019 anh Lưu Văn V có ý kiến:

Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Thái Thị H vào ngày 23/02/2018 do hai bên tìm hiểu tự nguyện,có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện TC, tỉnh NA. Sau kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc,đến ngày 16/10/2018 thì chị Thái Thị H đưa con về nhà ngoại sinh sống, đến tháng 12/2018 anh có nhắn tin nói với chị H đưa con về bên nội nhưng chị không nghe. Nay chị Thái Thị H xin ly hôn thì ý kiến anh V là mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi con khôn lớn thành người.

Về nuôi con chung:Vợ chồng anh có một chung là Lưu Thái Duy B,sinh ngày 05/10/2018. Trường hợp chị Thái Thị H mà kiên quyết xin ly hôn thì anh Lưu Văn V có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Thái Thị H cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Lưu Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong qúa trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82,83 Luật hôn nhân và gia đình;Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Thái Thị H được ly hôn anh Lưu Văn V.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Lưu Thái Duy B, sinh ngày 05/10/2018. Cho chị Thái Thị H trực tiếp chăm sóc,nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lưu Văn V.

Về chia tài sản và nợ: Chị Thái Thị H và anh Lưu Văn V không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Thái Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trường hợp Tòa án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn có tình vắng mặt được quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 31/7/2019 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho bị đơn.Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và đã có ý kiến bằng văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Thái Thị H và anh Lưu Văn V là hợp pháp,được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 23/02/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu,đến tháng 10 năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn,nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp nhau,vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng nhau, hai bên đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị Thái Thị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lưu Văn V thì anh Lưu Văn V không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Thái Thị H và anh Lưu Văn V chỉ tồn tại về mặt hình thức,thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng,đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị H, xử cho chị được ly hôn với anh anh Lưu Văn V là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2]Về nuôi con chung:Vợ chồng có một con chung là Lưu Thái Duy B, sinh ngày 05/10/2018. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Thái Thị H và anh Lưu Văn V đều có nguyện vọng được nuôi con và không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 12/8/2019 thì cháu Lưu Thái Duy B mới được hơn 10 tháng tuổi,thuộc trường hợp con đang dưới 36 tháng tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trong quá trình giải quyết vụ án thì chị H và anh V không thỏa thuận được việc nuôi con. Hiện tại con đang ở với chị Thái Thị H, chị có đủ điều kiện mọi mặt để trực tiếp chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con do đó giao con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mới đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81; 82;83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lưu Văn V.

[4] Về chia tài sản và nợ: Chị Thái Thị H và anh Lưu Văn V không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Thái Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

-Về hôn nhân: Cho chị Thái Thị H được ly hôn anh Lưu Văn V.

-Về nuôi con chung: Giao con chung là Lưu Thái Duy B, sinh ngày 05/10/2018 cho chị Thái Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lưu Văn V.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Chị Thái Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005679 ngày 14/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 165/2019/HNGĐ-ST ngày 12/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:165/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Chương - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về