Bản án 168/2016/DS-PT ngày 19/10/2016 về tranh chấp đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 168/2016/DS-PT NGÀY 19/10/2016 VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

Ngày 19 tháng 10 năm 2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2015/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2015, do có kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2015/DSST ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2644/2016/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2016 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Thanh, sinh năm 1968; trú tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

* Bị đơn:

1. Vợ chồng ông Phạm Văn Thanh, sinh năm 1958 và bà Đặng Thị An, sinh năm 1957;

2. Vợ chồng anh Phạm Văn Trường, sinh năm 1986 và chị Trần Thị Hải, sinh năm 1990.

Ông Thanh, bà An, anh Trường, chị Hải đều trú tại: thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; có mặt bà An, ông Thanh có đơn xin xử vắng mặt.

- Đại diện theo ủy quyền của anh Trường, chị Hải: chị Ong Thị Thanh, sinh năm 1979; địa chỉ: số nhà 20, ngõ 52, đường Huyền Quang, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đặng Thị An, anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải: Luật sư Hoàng Thị Bích Loan - Văn phòng luật sư Hoàng Loan thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang; có mặt.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Vợ chồng ông Nông Thanh Bình, sinh năm 1953 và bà Đặng Thị Khanh, sinh năm 1957; trú tại: thôn Tân Hương, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; có mặt bà Khanh.

2. Ông Phạm Văn Thống, sinh năm 1966, hiện đang lao động tại Cộng hòa Séc.

Đại diện theo ủy quyền của ông Thống: Bà Vũ Thị Thanh (là vợ ông Thống) và ông Nguyễn Đức Tứ. Ông Tứ trú tại số 332, phố Thanh Xuân, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

3. Vợ chồng anh Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1982 và chị Hoàng Thị Huệ, sinh năm 1983; trú tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.

4. Ủy ban nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.

5. Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.

NHẬN THẤY

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/6/2014 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là  bà Vũ Thị Thanh trình bày: Tháng 9/1994, Chi bộ và Thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam thống nhất thanh lý một số diện tích đất bờ bãi, ao hồ khu lò gạch bán cho dân để lấy tiền làm đường điện. Thôn tổ chức đấu giá 06 lô đất, vợ chồng bà tham gia và trúng 01 lô, diện tích 1 sào (360m2) tại xứ đồng Rừng Cấm giá 1.200.000 đồng, theo sơ đồ phân lô của thôn là thửa số 4. Thôn không đo cụ thể nhưng đã giao đất. Vợ chồng bà chưa được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất này.

Để thuận tiện cho việc canh tác, ngày 02/5/1996, chồng bà là ông Phạm Văn Thống và ông Nông Thanh Bình cùng ký giấy đổi đất cho nhau, có xác nhận của Trưởng thôn Tân Hương nhưng không thông qua UBND xã Nghĩa Phương chứng thực và chưa làm thủ tục với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Sự chuyển đổi đất giữa chồng bà với ông Bình, bà không được biết và không ký vào văn bản này. Theo chồng bà nói lại việc đổi đất giữa hai bên chỉ là tạm thời, khi nào cần thì vợ chồng bà sẽ lấy lại để làm nhà cho con nên bà không có ý kiến gì. Thửa đất mà chồng bà đổi cho ông Bình là thửa đất mua của thôn diện tích 360 m2, thửa đất ông Bình đổi cho ông Thống thuộc thửa số 488, tờ bản đồ số 8, diện tích 372m2 là đất canh tác tại xứ đồng Lách Nghè, thôn Tân Hương, xã Nghĩa Phương đã được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bình. Ngày 05/6/1996, ông Bình đã đổi thửa đất này cho vợ chồng ông Phạm Văn Thanh. Vợ chồng ông Thanh đã được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên con trai là Phạm Văn Tuấn với diện tích là 480m2 (trong đó, 400m2 đất ở, 80m2 đất vườn). Tháng 7/2010, anh Tuấn làm hợp đồng tặng cho diện tích đất này cho vợ chồng ông Thanh. Ngày 30/7/2010, UBND huyện Lục Nam đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An. Ngày 15/8/2010, vợ chồng ông Thanh làm hợp đồng tặng cho vợ chồng con trai là anh Phạm Văn Trường và chị Trần Thị Hải 107,5 m2 đất. Cùng ngày, vợ chồng ông Thanh làm hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng anh Đặng Văn Thuần và chị Nông Thị Thúy 96 m2. Hiện vợ chồng ông Thanh còn quản lý, sử dụng thửa đất số 4 của bà là 196,5m2. Diện tích đất vợ chồng ông Thanh tặng cho vợ chồng anh Trường và chuyển nhượng cho vợ chồng anh Thuần đều đã được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/10/2010.

Năm 2012, các con của bà đã lớn chuẩn bị xây dựng gia đình, vợ chồng bà yêu cầu ông Bình trả lại đất để làm nhà cho con nhưng ông Bình không đồng ý. Tháng 3/2012, bà làm đơn gửi UBND xã Nghĩa Phương đề nghị giải quyết việc đòi đất giữa gia đình bà với gia đình ông Bình. UBND xã đã tiến hành hòa giải nhiều lần giữa hai gia đình. Ông Thanh và ông Bình có hứa sẽ trả lại đất cho bà nhưng không thực hiện. Trên diện tích đất này, gia đình ông Thanh tiếp tục đổ đất vào lô đất của bà và làm thêm một gian quán nữa. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết:

- Tuyên bố hợp đồng đổi đất giữa ông Nông Thanh Bình với ông Phạm Văn Thống lập ngày 02/5/1996 và hợp đồng đổi đất giữa ông Nông Thanh Bình với ông Phạm Văn Thanh lập ngày 05/6/1996 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của các hợp đồng vô hiệu.

- Tuyên bố hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 15/8/2010 giữa vợ chồng ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An với vợ chồng anh Phạm Văn Trường và chị Trần Thị Hải đối với diện tích đất 107,5m2 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB147791 mang tên ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB147041 mang tên anh Phạm Văn Trường và chị Trần Thị Hải.

- Buộc ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An phải tháo dỡ tài sản gắn liền với diện tích đất 193,8m2, anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải phải tháo dỡ tài sản gắn liền với diện tích 70,2m2 tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam để trả lại diện tích đất nói trên cho vợ chồng bà.

* Bị đơn là ông Phạm Văn Thanh và bà Đặng Thị An trình bày: Năm 1994, thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam bán đấu thầu một số diện tích đất hoang hóa tại Rừng Cấm. Gia đình ông bà có đấu thầu được một thửa đất có diện tích 312 m2. Vợ chồng ông Nông Thanh Bình và bà Đặng Thị Khanh có diện tích 480m2 đất ở khu vực Rừng Cấm, thôn Quỷnh Cả. Do thửa đất diện tích 312m2 của gia đình ông bà nằm trước đất thổ cư của gia đình ông Bình, bà Khanh, còn diện tích của ông Bình, bà Khanh lại nằm bên cạnh thửa đất của vợ chồng ông bà nên ngày 05/6/1996, hai gia đình đã nhất trí đổi đất cho nhau, toàn bộ các thành viên trong hai gia đình đều biết, không có sự phản đối gì. Các bên đã sử dụng 18 năm nay, xây dựng nhà trên đất và không có tranh chấp. Tháng 11/2003, gia đình ông bà đã mời cán bộ địa chính xã và cán bộ thôn đến đo đạc, làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 480m2 mà vợ chồng ông bà đã đổi cho ông Bình, bà Khanh. Do ông chưa làm chứng minh thư nhân dân nên để con trai là Phạm Văn Tuấn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2009, ông bà đã làm thủ tục đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này (anh Tuấn làm thủ tục tặng cho). Ông bà đã cho con trai thứ là Phạm Văn Trường, vợ là Trần Thị Hải 107,5m2. Hiện vợ chồng con trai thứ là Phạm Văn Trường được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã làm nhà và ở ổn định nhiều năm nay. Năm 2011, vợ chồng ông bà đã bán tiếp 96m2 đất cho vợ chồng anh Đặng Văn Thuần, vợ chồng anh Thuần cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Gia đình ông bà sử dụng ổn định nhiều năm đối với diện tích 450m2, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà được làm công khai, đúng trình tự, thủ tục, hiện tại thửa đất được lập thành khuôn viên riêng, ông bà và các con đã xây dựng các công trình trên đất không ai có ý kiến phản đối gì, đồng thời khi xây dựng các công trình trên đất gia đình bà Vũ Thị Thanh đều biết và không hề phản đối hay khiếu nại gì. Vì vậy, ông bà không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thanh, không đồng ý trả lại phần đất 193,8m2 mà vợ chồng ông bà đang sử dụng.

* Anh Phạm Văn Trường và chị Trần Thị Hải xác nhận bố mẹ anh đã cho vợ chồng anh chị 107,5m2 năm 2009. Hiện vợ chồng anh chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này và anh chị đã làm nhà kiên cố trên đất để ở. Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh được thực hiện đúng. Đất của anh chị được chia, đã được anh chị thiết lập thành những khuôn viên riêng nên anh chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Thanh đòi trả lại cho bà 70,2m2 đất trong tổng số 107,5m2 đất mà bố mẹ anh cho anh chị.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Phạm Văn Thống trình bày: nguồn gốc đất tranh chấp đúng như trình bày của bà Thanh vợ ông và xác nhận ngày 02/5/1996, ông và ông Nông Thanh Bình tự ý ký giấy đổi đất cho nhau. Việc đổi đất là do ông tự nguyện không bàn bạc gì với vợ và vợ ông là bà Thanh cũng không ký vào biên bản đổi đất. Hai bên đổi đất cho nhau chỉ là tạm thời, khi nào cần vợ chồng ông lấy lại đất để làm nhà cho con. Vì vậy, vợ chồng ông không làm thủ tục sang tên trước bạ thửa đất số 448, tờ bản đồ số 08 diện tích 372 m2 tại xứ đồng Lách Nghè mà vợ chồng ông Bình đổi cho vợ chồng ông, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Lục Nam cấp cho ông Bình từ năm 1993 vẫn do gia đình ông Bình quản lý. Ông Thống cũng xác nhận việc bà Thanh làm đơn ra xã để đòi đất, được xã hòa giải nhiều lần giữa hai gia đình nhưng không có kết quả. Theo ông thì việc đổi đất giữa ông với ông Bình là không đúng với quy định của Luật đất đai, chính vì lẽ đó, vợ ông khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố các văn tự đổi đất vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Thanh, bà An; anh Trường, chị Hải. Riêng đối với diện tích đất 96m2 mà vợ chồng ông bán cho vợ chồng anh Đặng Văn Thuần được UBND huyện Lục Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì anh Thuần hiện nay không có mặt tại nơi cư trú do vỡ nợ, vợ anh Thuần là chị Nông Thị Thúy đang lao động tại Đài Loan nên diện tích đất này vợ chồng ông sẽ khởi kiện sau. Do ông đang lao động tại Cộng hòa Séc không thể về nước để tham gia giải quyết vụ án nên ông xin được vắng mặt trong tất cả các phiên hòa giải và xét xử tại Tòa án.

Ông Nông Thanh Bình, bà Phạm Thị Khanh đều trình bày:

Năm 1996, gia đình ông Thống có thửa đất 01 sào 02 thước tại khu Rừng Cấm, gia đình ông bà có một thửa đất 01 sào 02 thước trong khu Lách Nghè gần nhà vợ chồng ông Thống. Để thuận tiện cho quá trình sử dụng hai bên thống nhất đổi cho nhau, văn tự đổi đất có xác nhận của trưởng thôn Tân Hương là ông Hà Văn Mốt. Đến nay, đã hơn 18 năm thửa đất đã được hai bên sử dụng ổn định không hề có sự tranh chấp nào giữa các thành viên của hai hộ gia đình liên quan đến thửa đất đã chuyển đổi. Cụ thể, gia đình ông Thống có trồng cây lâu năm trên thửa đất của ông bà, còn gia đình ông bà đã đổi thửa đất của gia đình ông Thống cho gia đình ông Phạm Văn Thanh và bà Đặng Thị An là chủ sử dụng đất liền kề từ ngày 05/6/1996. Khi ông bà đổi đất cho ông Thanh, bà An, vợ chồng ông Thống, bà Thanh có biết nhưng không có ý kiến gì. Việc đổi đất là nguyện vọng của gia đình ông Thống, bà Thanh được sự chấp nhận của gia đình ông bà vì nó phù hợp và thuận tiện cho cả hai gia đình. Thửa đất của ông bà nhận chuyển đổi của gia đình ông Thanh, bà An, đến ngày 20/10/2008 ông bà chuyển nhượng cho con gái và con rể là vợ chồng cháu Thảo - Khánh. Nay bà Thanh lấy lý do không biết việc đổi đất và đề nghị hủy văn tự đổi đất đã lập là không đúng với thực tế sự việc, ông bà không đồng ý. Đồng thời, thửa đất gia đình ông bà nhận chuyển đổi của ông Thống đến nay ông bà không còn quản lý, sử dụng mà đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho gia đình ông Thanh, bà An. Do đó, ông bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thanh.

Anh Phạm Văn Tuấn, chị Hoàng Thị Huệ trình bày: Năm 2003, vợ chồng anh chị đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích diện tích đất 450m2 tại khu Rừng Cấm, thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam. Năm 2009, vợ chồng anh chị đã làm thủ tục tặng lại thửa đất này cho bố mẹ là ông Thanh, bà An. Bố mẹ anh chị đã cho anh Phạm Văn Trường diện tích 107,5m2, bán 96m2 cho vợ chồng anh Thuần. Hiện vợ chồng anh Trường, anh Thuần đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các diện tích đất này và đã làm nhà ở trên đất. Anh, chị  đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thanh, giữ nguyên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp hợp pháp như hiện nay.

UBND xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam có ý kiến như sau:

Việc đổi đất ruộng giữa hộ gia đình bà Vũ Thị Thanh với hộ ông Bình, ngày 02/5/1996 là không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai hiện hành và chưa được cấp có thẩm quyền xác nhận. Yêu cầu hai hộ gia đình ông Bình và hộ ông Thống trả lại đất canh tác cho nhau.

UBND huyện Lục Nam có quan điểm như sau: Việc hộ ông Phạm Văn Thống, bà Vũ Thị Thanh đổi đất cho hộ ông Nông Thanh Bình, bà ĐặngThị Khanh ngày 02/5/1996. Sau đó, ông Bình, bà Khanh lại đổi thửa đất này cho hộ ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An ngày 05/6/1996 là có thật. Việc chuyển đổi đất giữa các hộ nêu trên có sự thỏa thuận thống nhất và hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, những việc làm trên của 03 hộ dân là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 Luật đất đai năm 1993.

Về thửa đất của ông Phạm Văn Tuấn thực chất thửa đất này không đủ điều kiện để Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn Tuấn vì thửa đất này do ông Thanh, bà An đổi không đúng pháp luật với ông Bình, bà Khanh. Do thiếu hiểu biết về chuyên môn, do buông lỏng chức năng quản lý Nhà nước về đất đai nên UBND xã Nghĩa Phương năm 2003 đã lập hồ sơ trình UBND huyện công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Tuấn. Sau đó, ngày 26/6/2010 ông Tuấn lập hợp đồng tặng cho ông Thanh, bà An. Ngày 15/8/2010, ông Thanh, bà An lập tiếp hợp đồng tặng cho anh Trường, chị Hải với diện tích 107,5m2. Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 01 của ông Thanh, bà An với anh Trường, chị Hải tại thời điểm này là thực hiện quyền của người sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 106 Luật đất đai.

UBND huyện Lục Nam có quan điểm giải quyết: Giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02944 do UBND huyện Lục Nam cấp ngày 30/7/2010 chỉnh lý ngày 5/10/2010 mang tên ông Thanh, bà An cấp ngày 5/10/2010 và Giấy chứng nhận số CH 03722 do UBND huyện Lục Nam cấp ngày 5/10/2010 mang tên ông Trường, bà Hải với diện tích 107,5 m2; giữ nguyên khối tài sản của ông Thanh, bà An gắn liền với diện tích 193,8m2 và của ông Trường, bà Hải gắn liền với diện tích 70,2m2 tại thôn Quỳnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; đối với việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ ông Thống và bà Vũ Thị Thanh với hộ ông Bình, bà Khanh do vi phạm quy định pháp luật về đất đai, nếu giải quyết trả lại, cần xem xét cụ thể công sức, kinh phí mà hai bên đã bỏ ra để có hướng xử lý nếu giữ nguyên thì phải lập hồ sơ chuyển nhượng, hồ sơ công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2015/DSST ngày 24/8/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã áp dụng khoản 7 Điều 25; Điều 32a, Điều 131; khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 199, Điều 202, Điều 243, Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 122, Điều 127, khoản 2 Điều 137, khoản 1 Điều 410, Điều 693; 694; khoản 2, 3 Điều 696; 697; 698; 699; 701; 702; 722; 723; khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 31; điểm a khoản 1 Điều 106 Luật đất đai 1993; điểm d khoản 2 Điều 106, khoản 3 Điều 188 Luật đất đai 2013; Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thanh.

1. Tuyên bố “Văn tự đổi ruộng canh tác” giữa ông Nông Thanh Bình với ông Phạm Văn Thống lập ngày 02/5/1996 và “Giấy chuyển đổi ruộng đất” giữa ông Nông Thanh Bình với ông Phạm Văn Thanh lập ngày 05/6/1996 là giao dịch dân sự vô hiệu.

2. Tuyên bố hợp đồng tặng quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 15/8/2010 giữa vợ chồng ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An với vợ chồng anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải đối với diện tích đất 107,5m2 là giao dịch dân sự vô hiệu.

3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 147791 của UBND huyện Lục Nam cấp ngày 30/7/2010, chỉnh lý ngày 5/10/2010 mang tên ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An diện tích còn lại 246,5m2 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 147041 của UBND huyện Lục Nam cấp ngày 5/10/2010 diện tích 107,5 m2 mang tên anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải.

4. Buộc ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An trả bà Vũ Thị Thanh 193,8m2 và 15m2 đất dôi dư. Tổng 208,8m2 đất ở tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam (theo hướng TT Lục Nam đi Mai Sưu) về phía bên phải, cách tim đường 293 là 14m, lấy mốc giới là cột bê tông giáp đất anh Thuần với đất nhà ông Thanh, bà An kéo về phần đất nhà ông Thanh, bà An, tiếp giáp là đất anh Trường, chị Hải. Có các cạnh như sau: phía bắc giáp đường tỉnh lộ 293 là 10,2m, phía đông giáp đất anh Trường, chị Hải là 21m, phía nam giáp đất ông Trọng là 10,2m, phía tây giáp đất anh Thuần là 19,9m.

- Tạm giao cho bà Vũ Thị Thanh sử dụng 208,8m2 đất ở do ông Thanh, bà An trả tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương.

- Tạm giao cho ông Phạm Văn Thanh, bà Đặng Thị An sử dụng diện tích đất ở còn lại là 163,3m2 về phía đông giáp với diện tích đổi cho ông Bình, bà Khanh (trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Thanh, bà An đã bị hủy) có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía đông giáp đất đổi cho ông Bình, bà Khanh là 22,55m, phía tây giáp đất anh Trường, chị Hải 21,7m, phía nam giáp đất ông Trọng là 2,14m, phía bắc giáp đường tỉnh lộ 294 là 12,65m.

Buộc anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải trả bà Vũ Thị Thanh 70,2m2 đất ở tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam (theo hướng TT Lục Nam đi Mai Sưu) về phía bên phải liền kề với đất hộ ông Thanh, bà An, cách tim đường 293 là 14m, lấy mốc giới là ranh giới đất giữa anh Trường, chị Hải với ông Thanh, bà An về phía tây kéo về phần đất anh Trường, chị Hải có các cạnh tiếp giáp như sau: phía bắc giáp đường tỉnh lộ 293 là 3.265m, phía đông giáp phần đất còn lại của anh Trường, chị Hải là 21.7m, phía nam giáp đất ông Trọng 3.265m, phía tây giáp đất ông Thanh, bà An là 21m.

- Tạm giao cho bà Vũ Thị Thanh sử dụng 70,2m2 đất ở do anh Trường, chị Hải trả tại thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương.

- Tạm giao cho anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải sử dụng diện tích đất ở còn lại là 36,3m2 (trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Trường, chị Hải đã bị hủy), có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía đông giáp đất tạm giao cho ông Thanh, bà An là 21,7m; phía tây giáp đất tạm giao cho bà Vũ Thị Thanh là 21,7m, phía nam giáp đất ông Trọng là 1,735m; phía bắc giáp đường tỉnh lộ là 1,735m.

5. Bà Vũ Thị Thanh được sở hữu các tài sản trên diện tích đất tạm giao sử dụng gồm:

- Tài sản trên diện tích đất của ông Thanh, bà An do anh Trường, chị Hải xây dựng gồm: 01 nhà lán diện tích 37,23m2; 01 mái tôn diện tích 17,85m2, tổng 20.987.000 đồng;

- Tài sản trên diện tích đất của anh Trường, chị Hải gồm: 01 nhà tạm (nhà cấp 4) diện tích 40,87m2; 01 bếp diện tích 15,95m2. Mái lợp proximăng diện tích 23,1m2, khung lưới sắt B40 diện tích 22,66m2, tổng 29.242.000 đồng.

Tổng số tiền bà Thanh phải thanh toán trả cho anh Trường, chị Hải là 50.229.000 đồng.

6. Buộc bà Thanh phải có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Trường, chị Hải 50.229.000 đồng trị giá tài sản trên đất và 3.580.000 đồng tiền công tôn tạo, đổ đất, tổng cộng 53.809.000 đồng.

- Thanh toán trả cho ông Thanh, bà An tiền công tôn tạo đổ đất 6.760.000 đồng.

7. Ông Phạm Văn Thống (do ông Nguyễn Đức Tứ và bà Vũ Thị Thanh đại diện theo ủy quyền) và bà Vũ Thị Thanh phải trả ông Nông Thanh Bình, bà Phạm Thị Khanh, diện tích đất thực tế còn lại 246,7m2 tại thửa số 448, tờ bản đồ số 8, tại xứ đồng Lách Nghè, thôn Tân Hương, xã Nghĩa Phương trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện Lục Nam cấp ngày 4/10/1999 cho hộ ông Nông Thanh Bình (trừ 125,3m2 UBND huyện Lục Nam đã quyết định thu hồi).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với anh Trường, chị Hải, ông Thanh, bà An; chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Trong các ngày 03/9 và 29/9/2015, bà Ong Thị Thanh (đại diện đại diện cho anh Trường, chị Hải); vợ chồng ông Thanh, bà An; vợ chồng ông Bình, bà Khanh đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 08/9/2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có Quyết định kháng nghị số 15/QĐKNPT-DS đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2015/DSST ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án với các lý do:

- Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp về quyền sử dụng đất nhưng bị đơn là ông Thanh, anh Trường, chị Hải không được tham gia hòa giải ở cơ sở. Do đó, đơn khởi kiện của bà Thanh chưa đủ điều kiện khởi kiện;

- Bà Thanh yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa án đáp ứng yêu cầu này nhưng không buộc bà Thanh nộp tiền thực hiện biện pháp bảo đảm là không đúng quy định tại Điều 120 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Một phần diện tích đất liên quan đến hai văn bản đổi đất mà bà Thanh khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu đã được ông Bình, bà Khanh chuyển nhượng cho vợ chồng chị Nông Thị Vân Khánh, anh Nguyễn Minh Thảo; ông Thanh, bà An chuyển nhượng cho vợ chồng anh Thuần, chị Thúy. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện liên quan đến chị Khánh, anh Thảo; anh Thuần, chị Thúy. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thực hiện không đúng quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Bà Thanh yêu cầu Tòa buộc bà An, ông Thanh trả lại diện tích đất là 193,8m2, Tòa buộc trả 208,8m2 là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nhận định và quyết định của bản án sơ thẩm mâu thuẫn nhau cụ thể nhận định buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn nhưng quyết định lại tạm giao đất cho nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang; các đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quan điểm nhất trí với kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, bởi lẽ: Việc đổi đất của các bên là tự nguyện, tuy không được chứng thực theo quy định nhưng các bên đã giao đất cho nhau và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Giữa gia đình ông Thanh và gia đình ông Bình không hề có tranh chấp về việc chuyển đổi này. Bản thân vợ chồng ông Thống bà Thanh đã biết việc đổi đất từ năm 1996, biết gia đình ông Thanh tôn tạo đất, được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng công trình trên đất nhưng họ không có ý kiến gì. Năm 2012, khi Nhà nước thu hồi một phần thửa ruộng mà gia đình ông bà Thống Thanh đang sử dụng (thửa đất đổi với gia đình ông bà Bình Khanh), khi đó bà Thanh còn đứng ra kê khai nhận bồi thường và cũng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà Khanh khai cũng đã trao đổi với bà Thanh về việc đổi đất, bà Thanh biết rõ nhưng chỉ là không ký văn bản đổi đất. Việc chuyển đổi này tuy không hợp pháp nhưng trên thực tế đã thực hiện, theo như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, án lệ được thông qua thì hợp đồng đổi đất này không vô hiệu. Hơn nữa ranh giới, mốc giới đất tranh chấp không có; hiện trạng đất như hiện nay do bị đơn tôn tạo, lấn chiếm và chuyển đổi mục đích sử dụng làm tăng giá trị đất; Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết hậu quả vô hiệu nhưng không giải quyết triệt để, không đưa anh Thuần, chị Thúy; anh Khánh, chị Thảo vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá đất tranh chấp theo giá đất ở trong khi tại thời điểm chuyển đổi thửa đất đó chỉ là đất canh tác, thùng vũng. Định giá như vậy làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Thanh bà An vì gia đình ông Thanh bà An đã tôn tạo đất từ thùng vũng thành đất ở và đã được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao, tạm giao diện tích đất của anh Trường chị Hải như vậy sẽ không có lối đi và không thể thực hiện được.

Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, công nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Thanh bà An, giữ nguyên văn tự chuyển đổi đất ngày 05/6/2016 và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện Lục Nam đã cấp cho bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao giữ nguyên các nội dung tại Quyết định kháng nghị số 15/QĐKNPT-DS ngày 24/8/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, cụ thể: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án còn có những vi phạm như anh Trường, chị Hải không được hòa giải ở cấp cơ sở; xác định tư cách của người tham gia tố tụng không đúng, ông Thống phải là đồng nguyên đơn chứ không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; anh Thảo, chị Khánh không được đưa vào tham gia tố tụng là vi phạm; Tòa án cấp sơ thẩm không đưa anh Thuần, chị Thúy vào tham gia tố tụng là đúng vì nguyên đơn không khởi kiện đối với những người này; Tòa án đáp ứng yêu cầu của bà Thanh về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng không buộc bà Thanh nộp tiền thực hiện biện pháp bảo đảm là không đúng quy định tại Điều 120 Bộ luật tố tụng dân sự; bà Thanh yêu cầu Tòa buộc ông Thanh, bà An trả lại diện tích đất là 193,8m2, nhưng Tòa buộc trả 208,8m2 là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự; nhận định và quyết định của bản án sơ thẩm mâu thuẫn nhau cụ thể nhận định buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn nhưng quyết định lại tạm giao đất cho nguyên đơn; xác định nghĩa vụ chịu án phí không đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 01/2015/DSST ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu do các bên cung cấp đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, luật sư và kết luận  của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; sau khi thảo luận và nghị án;

XÉT THẤY

1. Về tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 25; Điều 32a BLTTDS năm 2004 nay là khoản 9 Điều 26; Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là đúng pháp luật.

Đơn kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kháng nghị được làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt hoặc ủy quyền, xin xử vắng mặt hợp pháp; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án giữ nguyên kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao giữ nguyên kháng nghị; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo, kháng nghị  nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm cũng đã triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là các anh, chị: Đặng Văn Thuần, Nông Thị Thúy; Nông Thị Vân Khánh, Nguyễn Minh Thảo, anh Phạm Văn Tuấn, chị Hoàng Thị Huệ, đại diện UBND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và UBND xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nhưng những người này đều vắng mặt không có lý do.

Về nội dung:

Theo lời khai của các bên đương sự trong suốt quá trình giải quyết vụ kiện, tại các phiên tòa và các tài liệu do cơ quan quản lý nhà nước cung cấp về thửa đất đang tranh chấp thì có đủ căn cứ để xác định: Nguồn gốc một phần thửa đất đang tranh chấp là do vợ chồng ông Phạm Văn Thống và bà Vũ Thị Thanh mua của thôn Quỷnh Cả, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tháng 4/1994, diện tích 1 sào (360m2) tại xứ đồng Rừng Cấm, thôn Quỷnh Cả. Để tiện cho việc canh tác, ngày 02/5/1996, ông Phạm Văn Thống đã đổi thửa đất này cho ông Nông Thanh Bình lấy ruộng của gia đình ông Bình tại Lách Nghè.

Ngày 05/6/1996, vợ chồng nông Nông Thanh Bình, bà Đặng Thị Khanh đổi thửa đất này cho vợ chồng ông Phạm Văn Thanh và vợ là Đặng Thị An để lấy mảnh đất của ông bà Thanh An nằm ở phía giáp mương. Phía trước mảnh đất giáp với khu vườn khai hoang của ông bà Bình, Khanh, phía đông giáp với gia đình anh chị Dư Liên. Hai bên đều xác nhận diện tích đất đổi là 1 sào (360m2). Ngày 20/10/2008, ông Bình, bà Khanh đã chuyển nhượng diện tích đất đổi này cho vợ chồng con gái là Nguyễn Minh Thảo và Nông Thị Vân Khánh - BL84 (có xác nhận của Trưởng thôn Tân Hương).

Quá trình sử dụng đất đã đổi cho nhau, tháng 11/2003, con ông Thanh, bà An là anh Phạm Văn Tuấn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 480m2. Ngày 30/7/2010, UBND huyện Lục Nam cấp đổi lại diện tích đất này cho ông Phạm Văn Thanh và bà Đặng Thị An điều chỉnh diện tích đất thực tế của thửa đất là 450m2.

Việc chuyển đổi đất giữa các hộ nêu trên có sự thỏa thuận thống nhất và hoàn toàn tự nguyện. Quá trình sử dụng đất đổi cho nhau đã có sự biến động về diện tích đất; về mục đích sử dụng đất (khi đổi là đất ruộng, đất canh tác nhưng hiện tại đã được chuyển đổi mục đích sử dụng là đất ở); về giá trị của đất (do được tôn tạo, chuyển đổi mục đích sử dụng làm tăng giá trị đất).

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã khai nhận không thống nhất về diện tích đất đã đổi cho nhau khi thì đổi diện tích 1 sào; khi thì một sào hai thước; văn tự đổi ruộng canh tác giữa ông Thống và ông Bình có ghi “…chúng tôi thống nhất đi đến nhất trí đổi cho nhau cụ thể thửa ruộng của ông Bình trước cửa nhà DT là 182 của ông Thống cũng là 182. Vậy từ ngày hôm nay chúng tôi có quyền sử dụng mảnh đất theo thỏa thuận trên và có trách nhiệm bảo lãnh cho nhau”.

Xét toàn bộ kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn để giải quyết vụ án khi các bị đơn là anh Trường, chị Hải, ông Thanh chưa được tham gia hòa giải ở cơ sở là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vấn đề này Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kháng nghị là có căn cứ;

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên các giao dịch đổi đất của ông Thống với ông Nông Thanh Bình; của vợ chồng ông Nông Thanh Bình bà Đặng Thị Khanh với vợ chồng ông Phạm Văn Thanh bà Đặng Thị An là vô hiệu và giải quyết hậu quả vô hiệu. Quá trình giải quyết vụ kiện, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bình, bà Khanh khai diện tích đất đã đổi cho vợ chồng ông Thanh bà An đã được ông bà chuyển nhượng cho vợ chồng con gái là Nguyễn Minh Thảo và Nông Thị Vân Khánh. Vợ chồng ông bà Thanh An cũng đã chuyển nhượng 96m2 đất cho vợ chồng anh Thuần, chị Thúy. Do đó, khi giải quyết vụ án, quyền lợi của vợ chồng anh Nguyễn Minh Thảo và chị Nông Thị Vân Khánh, vợ chồng anh Thuần, chị Thúy phải được xem xét nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là không đúng, không bảo đảm quyền tố tụng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Diện tích đất do nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn không xác định được mốc giới cụ thể như thế nào? Diện tích đất này nằm ở vị trí nào của thửa đất mà gia đình ông Phạm Văn Thanh và anh Phạm Văn Trường đang sử dụng? Diện tích đất đổi nguyên thủy có bao gồm diện tích đất mà ông Thanh đã chuyển nhượng cho anh Thuần, chị Thúy không? Việc không đưa anh Thuần, chị Thúy vào tham gia tố tụng là không đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nông Thị Thúy có đơn đề nghị được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất là 193,8m2 đối với ông Thanh, 70,2m2 đối với anh Trường; tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu này. Tuy nhiên, lý giải cho việc tại sao lại khởi kiện đối với diện tích đất đó trong khi diện tích đất trước đây hai bên đổi cho nhau là 360m2 nhưng không có mốc giới cụ thể (văn bản đổi đất lại là “DT 182”). Diện tích đất đổi có bao gồm diện tích đất đã được ông Thanh, bà An chuyển nhượng cho vợ chồng anh Thuần không? Diện tích đất tăng thêm trong quá trình gia đình ông Thanh sử dụng là 90m2 (450m2 - 360m2) nằm ở phần nào của thửa đất các bên đương sự không thống nhất được. Theo bị đơn là bà An thì do gia đình bà đã lấn ruộng phía trước, bên cạnh bồi đắp lên được diện tích đất như hiện tại và đã được chuyển đổi mục đích sử dụng (đất canh tác thành đất ở) làm tăng giá trị đất. Tất cả những vấn đề này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh, làm rõ.

Từ sự mâu thuẫn trong lời khai của các bên cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện cho thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn trả lại diện tích đất vượt quá yêu cầu của nguyên đơn là thiếu thuyết phục, không có căn cứ. Kháng cáo của bị đơn là ông Thanh, bà An, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bình, bà Khanh, anh Trường, chị Hải cũng như kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang về các nội dung như đã phân tích nêu trên là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm về thủ tục tố tụng cũng như nội dung đúng như quan điểm kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn mà những vấn đề này Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

Tạm ứng án phí do nguyên đơn nộp sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng nghị, một phần kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2015/DSST ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Anh Phạm Văn Trường, chị Trần Thị Hải, ông Phạm Văn Thanh và bà Đặng Thị An; ông Nông Thanh Bình và bà Đặng Thị Khanh không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại 200.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang: Số 000320 ngày 7/9/2015; số 000325, 000328 ngày 02/10/2015 và số 000326, 000327 ngày 02/10/2015.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 


181
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 168/2016/DS-PT ngày 19/10/2016 về tranh chấp đất đai

      Số hiệu:168/2016/DS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:19/10/2016
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Án lệ được căn cứ
             
            Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
              Bản án/Quyết định phúc thẩm
                Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về