Bản án 16/HSST ngày 13/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 16/HSST NGÀY 13/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 8 năm 2019 tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/HSST-QĐ ngày 01/8/2019 đối với bị cáo:

LÊ TRỌNG U. Sinh ngày 21/7/1989, tại xã T, huyện L, tỉnh H; Nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Thúc T, sinh năm 1950 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Con: 01 người con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Đ; Sinh ngày 16/3/1993

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H Nghề nghiệp: Buôn bán. Có mặt tại phiên tòa

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Trọng Đ. Sinh năm 1968

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa

- Ông Lê Thúc T. Sinh năm 1950

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa

- Ông Trần Sỹ T. Sinh năm 1959

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa

- Anh Nguyễn Trọng T. Sinh năm 1981

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa

- Anh Nguyễn Doãn T. Sinh năm 1983

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa

- Ông Nguyễn Doãn H. Sinh năm 1975

Trú quán: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/5/2019, Lê Trọng U đi đến quán của gia đình chị Nguyễn Thị Đ trú cùng thôn để uống bia. Quá trình ngồi uống bia U quan sát thấy chị Đ có cầm nhiều tiền mặt ở tay nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà chị Đ để lấy trộm tài sản. Sau khi uống bia ở quán nhà chị Đ, U đi đến nhà anh Nguyễn Doãn T (anh rể của U) tiếp tục ngồi uống bia. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày U đi đến nhà chị Đ, trên đường đi U thấy chị Đ đang ngồi chơi phía ngoài ngõ, U liền đi vòng theo đường hẻm, trèo qua tường rào để vào nhà chị Đ. Sau khi đi vào khu vực sân, quan sát không thấy ai nên U đi vào phòng ngủ của gia đình chị Đ. Tại đây U thấy phía đầu giường ngủ có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu hồng, U liền lấy cầm ở tay, tiếp đó U quan sát thì thấy ở góc tường phía cuối giường, có một chiếc tủ, dạng tủ đứng hai cánh, cửa tủ không khóa. U đi lại mở cánh cửa tủ ra thì thấy ở ngăn phía trên có 01 hộp nhựa hình tròn nhỏ, mở ra thì thấy bên trong có số tiền 6.794.000đ (một số được buộc lại bằng dây và một số tiền lẻ để bên ngoài) U đã lấy toàn bộ số tiền đó. Cùng lúc này chị Đ về nhà và đi từ ngoài sân vào phòng ngủ. Sợ chị Đ phát hiện nên U đi xuống phía nhà bếp để tìm đường ra, nhưng cửa ra vào nhà bếp đều bị đóng, thấy vậy U chạy theo lối hành lang qua phòng ngủ để ra ngoài. Lúc này chị Đ đã phát hiện thấy U nên đã đứng trước hành lang để chặn U lại. Bị chị Đ chặn đường U dùng tay trái che mặt, tay phải U gạt ngang trúng vào vai chị Đ để tạo khoảng trống chạy thoát ra ngoài. Thấy U bỏ chạy nên chị Đ hô hoán lên, nghe thấy tiếng hô hoán, ông Nguyễn Trọng Đ là bố của chị Đ chạy đến thì nghe chị Đ nói về việc phát hiện thấy U đột nhập vào nhà để lấy trộm tài sản, nên ông Đ đã điều khiển xe máy đi tìm U. Trên đường bỏ chạy Lê Trọng U trèo qua tường rào nhà chị Đ đã làm hư hỏng chiếc điện thoại vừa lấy trộm được. Khi đi về đến ngõ nhà mình thấy có người đi phía sau, sợ bị phát hiện nên U đã vứt chiếc điện thoại di động và số tiền vừa lấy trộm được của chị Đ vào vườn nhà ông Đ (phía trước ngõ nhà U). Lúc này ông Nguyễn Trọng Đ đi xe máy đến thấy U vứt vật gì đó qua vườn nhà ông Đ nên đã kiểm tra thì phát hiện thấy chiếc điện thoại OPPO A71 đã bị hư hỏng cùng với số tiền U vừa trộm được. Sau đó ông Đ đã gọi ông Lê Thúc T (là bố của U) đến chứng kiến sự việc, đồng thời mang toàn bộ số tiền và chiếc điện thoại về cho chị Đ để trình báo cơ quan Công an.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Trọng U đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSLH ngày 08 tháng 7 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lê Trọng U về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện Lộc Hà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt Lê Trọng U từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại đã được bồi thường đầy đủ, không yêu cầu gì thêm và vật chứng đã xử lý trong quá trình điều tra nên đề nghị Tòa miễn xét

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có được trong hồ sơ vụ án cho thấy: Vào khoảng 21 giờ, ngày 20/5/2019, Lê Trọng U đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị Đ lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, màu hồng có giá trị 1.400.000 đồng và 6.794.000đ tiền mặt. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Đ là 8.194.000đ Vì vậy Tòa xét thấy có đầy đủ các căn cứ để xét xử bị cáo Lê Trọng U về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 - BLHS như Cáo trạng của VKS đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố là ông Lê Thúc Tịnh có tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được hưởng chính sách như thương binh và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Do đó Tòa cần áp dụng các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51-BLHS xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật khi quyết định hình phạt. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện Lộc Hà đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 08 tháng tù, Tòa xét thấy mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện Lộc Hà đề nghị là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, Tòa xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và giao bị cáo cho UBND xã T và gia đình quản lý giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

3. Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này, chị Nguyễn Thị Đ đã được bồi thường đầy đủ và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Tòa miễn xét.

4. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà đã thu giữ được một số vật chứng sau: 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu hồng đã bị nứt vỡ hoàn toàn; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 6.794.000đ. Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Đ nên Tòa miễn xét.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Trọng U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65-Bộ luật hình sự xử phạt Lê Trọng U 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã T và gia đình quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiên theo quy định tại khoản 1, điều 69-Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136-BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Báo cho cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/HSST ngày 13/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:16/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Hà - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về