Bản án 171/2018/DSST ngày 19/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 171/2018/DSST NGÀY 19/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 6 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2018/TLST – DS ngày 15 tháng 01 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2018/QĐXXST – DS, ngày 14 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ trụ sở: Số 00, đường L, phường L, quận Đống Da, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đăng ký hoạt động chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh do ông T – Trưởng phòng thu hồi nợ của Ngân hàng đại diện.

Địa chỉ: Số 001, đường N, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Chị P, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (Theo văn bản ủy quyền ngày 31/8/2018).

Bị đơn: Chị T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (Chị P có mặt; Chị T xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04/9/2018 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị P đại diện cho Ngân hàng V (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngân hàng có cho chị T vay số tiền là 35.500.000đ với lãi suất cho vay là 3,75%/tháng, hình thức vay là vay trả chậm trong hạn 24 tháng theo hợp đồng tín dụng số 20140729-500000-0004 ngày 23/7/2014. Theo hợp đồng thỏa thuận thì chị T phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 48.407.000đ. Thực hiện hợp đồng, chị T trả được 10 lần với số tiền 20.140.000đ và đến ngày 25/6/2015 thì không trả bất kỳ khoản nào. Nay chị P đại diện choNgân hàng yêu cầu chị T trả số tiền là 28.267.000đ. Trong đó nợ gốc là21.671.905đ, tiền lãi là 6.595.095đ. Ngoài ra, chị P không có yêu cầu gì khác

Tại lời trình bày của chị T: Chị T xác nhận có ký hợp đồng tín dụng vớiNgân hàng để vay số tiền 35.500.000đ và lãi suất theo hợp đồng đã ký và trả được 10 lần với số tiền 20.140.000đ. Nay Ngân hàng yêu cầu chị T trả số tiền28.267.000đ. Trong đó nợ gốc là 21.671.905đ, tiền lãi là 6.595.095đ thì chị T đồng ý nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000đ cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Bị đơn chị T có hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

[2] Về tố tụng: Chị T xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T.

[3] Qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 20140729-500000-0004 ngày 23/7/2014, xác định chị T có vay của Ngân hàng số tiền là 35.500.000đ với lãi suất cho vay là 3,75%/tháng, hình thức vay là vay trả chậm trong hạn 24 tháng. Theo hợp đồng thỏa thuận thì chị T phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 48.407.000đ. Thực hiện hợp đồng, chị T có trả được 10 lần với số tiền 20.140.000đ và đến ngày 25/6/2015 thì không trả bất kỳ khoản nào. Nay chị P đại diện cho Ngân hàng yêu cầu chị T trả số tiền là 28.267.000đ. Trong đó nợ gốc là 21.671.905đ, tiền lãi là 6.595.095đ. Xét thấy việc chị T nợ Ngân hàng đã lâu mà không có thiện chí trả nợ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải buộc chị T trả cho Ngân hàng số tiền 28.267.000đ. Trong đó nợ gốc là 21.671.905đ, tiền lãi là 6.595.095đ là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.

Về án phí trong vụ án: Buộc chị T phải chịu theo quy định tại Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 92, 144, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 424, 427, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01/01/2011. Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với chị T.

Buộc chị T trả cho Ngân hàng V số tiền 28.267.000đ. Trong đó nợ gốc là 21.671.905đ, tiền lãi là 6.595.095đ.

Kể từ ngày /10/2018 cho đến khi chị T thanh toán xong số tiền trên, Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Hà trả thêm tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 20140729-500000-0004 ngày 23/7/2014 cho đến khi chị T trả hết nợ.

Về án phí: Buộc chị T phải chịu 1.413.000đ án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Hoàn trả lại cho Ngân hàng V số tiền 707.000đ tạm ứng án phí tại biên lai thu 3292 ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Án này là sơ thẩm, chị P có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng chị T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 171/2018/DSST ngày 19/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:171/2018/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về