Bản án 17/2017/HC-PT ngày 29/09/2017 về khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 17/2017/HC-PT NGÀY 29/09/2017 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 03/2017/TLPT-HC ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 11/2017/HC-ST ngày 19 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2017/QĐ-PT ngày 16 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1949.

Địa chỉ: tổ 25, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Đi diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Huỳnh Văn T là: Ông

Hà Nguyễn K, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Khu phố 4, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Hợp đồng ủy quyền ngày 15/5/2014). (Ông T, ông K có mặt).

- Người bị kiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố B Địa chỉ: Đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn L – Chức vụ: Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố B.(có đơn xin xét xử vắng mặt)

(Văn bản ủy quyền số 8850/UBND-TCD ngày 09/9/2016).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Uỷ ban nhân dân phường L, thành phố B, Đồng Nai;

2. Bà Trần Thị T7, sinh năm 1952

3. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1982

4. Bà Phan Thanh Đ, sinh năm 1982

5. Cháu Huỳnh Phan Kim Y, sinh năm 2005

6. Cháu Huỳnh Phan Gia B, sinh năm 2008

Cháu Y, Gia B do ông T1 làm đại diện hợp pháp.

7. Bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1984

8. Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1979

9. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1979

10.Bà Lưu Thị Lệ T, sinh năm 1978

11. Cháu Huỳnh Tấn V, sinh năm 2002

Do ông Văn H đại diện hợp pháp.

12. Bà Huỳnh Kim L, sinh năm 1972

13. Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1972

14. Cháu Nguyễn Thị Xuân Đ, sinh năm 1994

15. Cháu Nguyễn Thanh L, sinh năm 2007

Do bà Huỳnh Kim L đại diện hợp pháp.

16. Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1970

17. Bà Đồng Thị H, sinh năm 1972

18. Cháu Huỳnh Văn H1, sinh năm 1993

19. Cháu Huỳnh Thị B, sinh năm 1995

20. Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1977

21. Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1978

22. Cháu Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1995

23. Cháu Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 2001

Do ông T2 đại diện hợp pháp.

24. Bà Hứa Thị H2, sinh năm 1980

25. Ông Nguyễn Hồng H3, sinh năm 1978

26. Cháu Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm 2001

Do bà H2 đại diện hợp pháp.

27. Cháu Nguyễn Thị Mỹ H5, sinh năm 2007

Do bà H2 đại diện hợp pháp.

28. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1960

29. Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1955

30. Bà Lương Thị H6, sinh năm 1981

31. Ông Lương Thanh T3, sinh năm 1974

32. Cháu Lương Tấn P, sinh năm 2003

33.Cháu Lương Tấn T4, sinh năm 2007

34. Cháu Lương Tấn L2, sinh năm 2012

Do bà Lương Thị H6 làm đại diện hợp pháp.

35. Bà Huỳnh Thị Hồng H6, sinh năm 1987

36. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987

37. Ông Huỳnh Thanh P1, sinh năm 1996

38. Ông Trần Văn M, sinh năm 1972

39. Bà Trần Thị Thanh P2, sinh năm 1968

40. Ông Hồ Hoàng Th, sinh năm 1958

41. Bà Hồ Thị Loan Th1, sinh năm 1983

Cùng địa chỉ: tổ 25, khu phố 4, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

42. Bà Ngô Thị U, sinh năm 1950

Địa chỉ: Tổ 28A, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

43. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1941

Địa chỉ: khu phố 4, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

44. Ông Nguyễn Tấn H7, sinh năm 1963

Địa chỉ: Tổ 30B, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Huỳnh Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, người khởi kiện ông Huỳnh Văn T trình bày:

Ông Huỳnh Văn T khởi kiện yêu cầu hủy quyết định số 1849/QĐ- UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố B về việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất.

Theo ông T về nguồn gốc phần diện tích đất 14.000m2 mà Chủ tịch UBND thành phố B giải quyết bác đơn khiếu nại của ông là đất ruộng và ao của ông Võ Hà Th2 bỏ hoang không sử dụng. Nên ông T và một số hộ dân gồm hộ ông Nguyễn Văn B1, hộ bà Ngô Thị U (có chồng là Võ Đại Th3) và hộ ông Mai Văn T6 (có vợ là Nguyễn Thị T5) cùng một số hộ khác…đã cùng nhau khai hoang để làm ruộng và trồng hoa màu, nuôi thủy sản để sinh sống trước ngày giải phóng. Ông T vẫn liên tục sử dụng phần đất này để canh tác và sản xuất (hơn 35 năm). Vào ngày 17/02/1978 UBND thành phố B ra quyết định số 21 thu hồi tất cả ruộng rẫy, vườn cây ăn trái của ông Võ Hà Th2 ở xã L và xã Tân Th4 (nay là phường L).

Năm 1999, các hộ dân gồm: hộ ông Nguyễn Văn B1 sử dụng 3.800m2, hộ ông Võ Đại Th3 sử dụng 3.200m2, hộ ông Mai Văn T6 sử dụng 2.000m2,gia đình ông T sử dụng 3.207m2 và khai hoang thêm 5.400m2 đã ra UBND phường L xin kê khai đăng ký quyền sử dụng đất (QSD) nhưng ban địa chính phường không cho đăng ký. Nay căn cứ vào những điểm nêu trên (đất đã được sử dụng ổn định lâu dài và không có ai tranh chấp). Căn cứ vào mục 3,4,5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003, mục 3 Điều 48 Nghị định 181/2014/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về việc cấp giấy Chứng nhận QSD đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý thì hộ gia đình, cá nhân đó được tiếp tục sử dụng, được cấp giấy chứng nhận QSD đất và không phải nộp tiền sử dụng đất”.

Đồng thời căn cứ theo khoản 1C Điều 5 Nghị quyết số 755 ngày 02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đối với nhà đất quản lý sót (tức nhà, đất đã có văn bản quản lý theo quy định của chính sách quản lý nhà, đấtvà chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 của cơ quan Nhànước. Nhưng thực tế Nhà nước chưa quản lý, chưa bố trí sử dụng nhà, đất đó)thì người đang trực tiếp sử dụng nhà đất thuộc những đối tượng quy định(trong đó có người mua, nhận tặng cho chuyển đổi nhà đất ngay tình). Được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Do đó, quyết định của Chủ tịch UBND thành phố B cho rằng ông T nhận chuyển nhượng khi chưa có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền là không đúng và việc bác đơn khiếu nại của ông T là không có căn cứ.

Vì vậy, nay ông Huỳnh Văn T khởi kiện yêu cầu hủy quyết định số1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch UBND thành phố B.

* Trong quá trình làm việc, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tấn L – Phó Chủ tịch UBND thành phố B, trình bày:

Về nguồn gốc diện tích đất 14.000m2 thuộc một phần thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại khu phố 4, phường L mà ông Huỳnh Văn T xin được đăng ký và cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất có nguồn gốc một phần do ông T tự khai phá đào ao trên Bàu ông Phủ Th5 (Võ Hà Th2) và một phần do ông T nhận chuyển nhượng trái phép của 03 hộ được tập đoàn sản xuất nông nghiệp giao khoán nhưng canh tác không hiệu quả nên đã chuyển nhượng cho ông T, cụ thể:

- Năm 1999, ông T tự khai phá đào ao cá trên phần đất trước đây là của ông Bàu Phủ Thanh với diện tích khoảng 5.400m2.

- Hộ ông Nguyễn Văn B1 chuyển nhượng giấy tay ngày 15/6/1999 với diện tích khoảng 3.800m2.

- Hộ bà Ngô Thị U (có chồng là Võ Đại Th3) chuyển nhượng giấy tay ngày 06/10/1999 với diện tích khoảng 3.200m2.

- Hộ ông Mai Văn T6 (có vợ là Nguyễn Thị T5) chuyển nhượng giấy tay ngày 31/3/2000 với diện tích khoảng 1.600m2.

Năm 2006, ông T có đơn xin đăng ký chuyển nhượng Quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 14.000m2 nêu trên. Ngày 16/10/2006, UBND phường L có văn bản số 261/UBND về việc trả lời đơn đăng ký của ông T với nội dung là không được đăng ký do thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7 là đất của Nhà nước quản lý (UBND phường đã đăng ký theo Biên nhận số 2925/TTKTĐC ngày 28/6/2002). Ông Huỳnh Văn T không đồng ý với văn bản số 261/UBND ngày 16/10/2006 của UBND phường L tiếp tục có đơn khiếu nại Văn bản nêu trên của UBND phường L. Ngày 08/11/2007, Chủ tịch UBND phường L ban hành Quyết định số 284/QĐ-CT.UBND về việc bác đơn khiếu nại của ông T ngụ tại tổ 25, khu phố 4, phường B khiếu nại văn bản số261/UBND ngày 16/10/2006 của UBND phường L là không có cơ sở giải quyết.

Ngày 04/12/2007, ông T tiếp tục có đơn khiếu nại gửi đến UBND thành phố B khiếu nại quyết định số 261/UBND ngày 16/10/2006 của UBND phường L. Ngày 01/12/2007, UBND thành phố Biên Hòa chuyển đơn của ông Tục giao Thanh tra thành phố B kiểm tra, đề xuất UBND thành phố B giải quyết đơn của ông T. Ngày 13/8/2008, Thanh tra thành phố B có báo cáo số229/BC-TTr về việc kết quả kiểm tra, xác minh nguồn gốc sử dụng đất củaông Huỳnh Văn T, thể hiện: Bà Trần Thị T7 (Vợ ông Huỳnh Văn T) được Tậpđoàn giao khoán với diện tích 3.207,3m2. Đến ngày 10/8/2001, bà T7, ông Tcùng các con trong gia đình làm giấy tay sang nhượng toàn bộ diện tích3.207,3m2 cho ông Hồ Văn L2. Như vậy, diện tích đất mà hộ gia đình ông T được Tập đoàn giao khoán vào năm 1978, đến năm 2001 gia đình ông T không sử dụng nữa mà chuyển nhượng trái phép cho ông Hồ Văn L2. Tại biên bản làm việc ngày 24/12/2007, ông T xác nhận phần đất này ông không khiếu nại việc đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất. Phần diện tích ông khiếu nạilà 14.000m2 thuộc một phần thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại khu phố 4, phường L do 03 hộ được Tập đoàn giao khoán nhưng canh tác không hiệu quả nên chuyển nhượng lại cho gia đình ông T sử dụng (03 hộ gồm: Hộ ông Nguyễn Văn B1 chuyển nhượng giấy tay ngày 15/6/1999 với diện tích khoảng 3.800m2. Hộ bà Ngô Thị U (có chồng là Võ Đại Th3) chuyển nhượng giấy tay ngày 06/10/1999 với diện tích khoảng 3.200m2. Hộ ông Mai Văn T6 (có vợ là Nguyễn Thị T5) chuyển nhượng giấy tay ngày 31/3/2000 với diện tích khoảng 1.600m2) và phần diện tích 5.400m2 ông T tự khai phá đào ao vào năm 1999 (trên Bàu ông Phủ Th5). Như vậy, căn cứ thời điểm sử dụng diện tích 14.000m2 đất trên hộ gia đình ông T đã vi phạm Điều 6, Luật đất đai năm 1993 “Nghiêm cấm việc lấn, chiếm, chuyển nhượng QSD đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, hủy hoại đất”.

Mặc khác, trong quá trình thực hiện chính sách quản lý đối với thửa đấtsố 199, tờ bản đồ số 7 có diện tích 36.247,8m2 (thực hiện theo Quyết định số188/CP ngày 25/9/1976 của Hội đồng Chính phủ về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ởmiền nam) và sử dụng từ năm 1978 đến nay Nhà nước chưa có quyết định giao đất nông nghiệp chính thức hoặc cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho bất kỳ hộ gia đình, cá nhân nào để sử dụng ổn định lâu dài. Như vậy, về nguyêntắc thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7 có diện tích 36.247,8m2 (trong đó bao gồm diện tích khoảng 14.000m2 đất hiện ông Tục đang khiếu nại) thuộc sự quản lý của Nhà nước. Năm 2000 phường L tiến hành kê khai, đăng ký vào số địa chính thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7 có diện tích 36.247,8m2 loại đất nông nghiệp dành cho công ích của phường (Bảng liệt kê đất do UBND phường L lập ngày 18/6/2000 và Biên nhận đăng ký số 2925/TTKTĐC ngày 28/6/2002)là đúng theo quy định tại Điểm 3, Khoản I.3, Mục I Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận QSD đất.

Căn cứ vào khoản 4, Điều 7 Luật đất đai năm 2003 và Khoản 2, Điều 2 và điểm b, Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ theo đó, UBND phường L là đại diện chủ sở hữu và chịu trách nhiệm trước UBND thành phố đối với việc sử dụng thửa đất số 199, tờ bản đồsố 7 với diện tích 36.247,8m2 và thửa đất công ích này không được cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào (trừ trường hợp UBND thành phố B Quyết định thu hồi để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt).

Từ những nội dung trên thể hiện quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày22/8/2008 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc bác đơn đề ngày04/12/2007 của ông Huỳnh Văn T và công nhận quyết định số 284/QĐ- CT.UBND ngày 08/11/2007 của Chủ tịch UBND phường L là đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc ông Huỳnh Văn T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch UBND thành phố B là không có cơ sở, đề nghị bác đơn khởi kiện của ông Huỳnh Văn T.

* Trong quá trình làm việc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanUBND phường L do bà Lê Thị Thu T7 đại diện trình bày:

Vào năm 2006, ông Huỳnh Văn T có đến UBND phường L xin đăng kýQSD đất đối với phần đất có diện tích 14.000m2 thuộc một phần thửa đất số199, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại khu phố 4, phường L. UBND phường L đã có văn bản số 261/UBND ngày 16/10/2006 về việc trả lời đơn xin đăng ký đấtcủa hộ ông Huỳnh Văn T cụ thể: “Nguồn gốc đất được xác định là của ông Võ Hà Th2, Nhà nước quản lý theo quyết định số 21/QĐ ngày 17/02/1978 của UBND thành phố B. Quá trình sử dụng đất của ông Huỳnh Văn T không phải sử dụng từ trước năm 1975 theo đơn ông T trình bày mà ông sử dụng đào aonuôi cá từ sau năm 2002 trên đất được giao khoán của hộ ông Võ Đại Th3 và bà Mai Thu H8. Đất nhà nước quản lý, tạm thời giao cho ông T sử dụng sản xuất nông nghiệp nhưng không được đăng ký (vì UBND phường đã đăng ký theo biên nhận số 2925/TTTĐC ngày 28/6/2000 thuộc thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7). Khi nhà nước thu hồi, ông Tục có trách nhiệm giao trả lại theo đúng diện tích đã sử dụng, không được chuyển quyền sử dụng theo đổi mục đích sửdụng đất”.

Không đồng ý với văn bản số 261/UBND ngày 16/10/2006 của UBND phường L, ông T tiếp tục khiếu nại đến UBND thành phố B. Căn cứ văn bản số 2892/UBND-TTr của UBND thành phố B giao UBND phường kiểm tra, giải quyết đơn của ông T theo quy định của luật khiếu nại, tố cáo, Chủ tịch UBND phường L đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 284/QĐ-CT.UBNDngày 08/11/2007 bác đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn T khiếu nại văn bản số 261/UBND ngày 16/10/2006.

Việc UBND phường L kê khai, đăng ký đất công do UBND phường quản lý đối với thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại khu phố 4, phường L (theo bảng liệt kê đất do UBND phường lập ngày 18/6/2000 và biên nhậnđăng ký số 2925/TTKTĐC ngày 28/6/2000) là đúng theo quy định tại điểm 3, khoản I.3 mục I thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổngcục địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận QSD đất.

Căn cứ khoản 4, Điều 7, luật đất đai năm 2003; khoản 2, Điều 2 và điểm b khoản 2 Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 19/10/2004 của Chính phủ thì UBND phường L là đại diện chủ sở hữu và chịu trách nhiệm trước UBND thành phố đối với việc sử dụng thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7với diện tích 36.247,8m2 và thửa đất công ích này không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào (trừ trường hợp UBND thành phố B thu hồi để sử dụng vào mục đích phi nôngnghiệp theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt).

Từ những nội dung trên, việc ông Huỳnh Văn T yêu cầu Tòa án hủy QĐ số 1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của chủ tịch UBND thành phố B là không có cơ sở, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị G, bà Hứa Thị H2, bà Lương Thị H6, bà Trần Thị Thanh P2 trình bày: Bà G, bà Hứa Thị H2, bà Lương Thị H6, bà P2 là những người ở trên thửa đất đất số 199, tờ bản đồ số 7, khu phố 4, phường L. Nay ông T khởi kiện quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của chủ tịch UBND thành phố B thì không có ý kiếngì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T7, sinh năm1952; Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1982;Bà Phan Thanh Đ, sinh năm 1982Cháu Huỳnh Phan Kim Y, sinh năm 2005; Cháu Huỳnh Phan Gia B,sinh năm 2008 do ông T1 đại diện; Bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1984; Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1979; Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1979; Bà Lưu Thị Lệ T, sinh năm 1978; Cháu Huỳnh Tấn V, sinh năm 2002 Do ông H đại diện hợp pháp; Bà Huỳnh Kim L, sinh năm 1972; Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1972; Cháu Nguyễn Thị Xuân Đ, sinh năm 1994; Cháu Nguyễn Thanh L, sinh năm 2007 Do bà Huỳnh Kim L đại diện hợp pháp; Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1970; Bà Đồng Thị H, sinh năm 1972 Cháu Huỳnh Văn H1, sinh năm 1993; Cháu Huỳnh Thị B, sinh năm 1995 Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1977; Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1978; Cháu Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1995; Cháu Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 2001 do ông T2 đại diện hợp pháp; Ông Nguyễn Hồng H3, sinh năm 1978; Cháu Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm 2001 do bà H2 đại diện hợp pháp; Cháu Nguyễn Thị Mỹ H5, sinh năm2007 do bà H2 đại diện hợp pháp; Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1955; ÔngLương Thanh T3, sinh năm 1974; Cháu Lương Tấn P, sinh năm 2003; CháuLương Tấn T4, sinh năm 2007; Cháu Lương Tấn L2, sinh năm 2012 Do bà Lương Thị H6 đại diện hợp pháp; Bà Huỳnh Thị Hồng H6, sinh năm 1987; Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987; Ông Huỳnh Thanh P1, sinh năm 1996; Ông Trần Văn M, sinh năm 1972; Ông Hồ Hoàng Th, sinh năm 1958; Bà Hồ Thị Loan Th1, sinh năm 1983.

Những người trên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Tục.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Ngô Thị U trình bày:

Vào ngày 06/10/1999 bà và gia đình có làm giấy tay giao phần đất diệntích 3.200m2 tại thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại tổ 25, khu phố 4, phường L cho ông T quản lý, sử dụng. Bà và gia đình không có tranh chấp và cũng không có ý kiến gì đối với việc khởi kiện của ông T, đề nghị Tòa xét xử theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị T5 trình bày:

Vào ngày 31/3/2000 bà và ông Mai Văn T6 (chồng bà đã mất) có làm giấy tay giao phần đất diện tích 2000m2 tại thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại tổ 25, khu phố 4, phường L cho ông T quản lý, sử dụng. Bà và gia đình không có tranh chấp và cũng không có ý kiến gì đối với việc khởi kiện của ông T, đề nghị Tòa xét xử theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn H7 trình bày:

Ông là con của ông Nguyễn Văn B1 (đã chết), theo ông được biết thì vào năm 1999 ba ông là ông Nguyễn Văn B1 đã viết giấy tay giao phần đất diện tích 3.800m2 tại thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại tổ 25, khu phố4, phường L cho ông T quản lý, sử dụng. Gia đình ông không có tranh chấp và cũng không có ý kiến gì đối với việc khởi kiện của ông T, đề nghị Tòa xét xử theo quy định pháp luật.

Tại bản án sơ thẩm số 11/2017/HC-PT ngày 19/4/2017 của Tòa án nhândân thành phố B đã căn cứ các Điều 3, Điều 30, 146,157, 158, 164, 193, 194 Luật tố tụng hành chính; Khoản 5 Điều 1 Nghị quyết 104/2015/QH-13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Áp dụng Điều 20 Luật khiếu nại, tố cáo 2004, Luật khiếu nại, tố cáo 2005; Điều 6 Luật đất đai 1993; điểm 3, khoản I.3, mục I Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính; khoản 4 Điều 7 Luật đất đai 2003; khoản 2 Điều 2 và điểm b khoản 2 Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2014 của Chính phủ; Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009.

Quyết định:

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc hủy quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất số1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố B

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí theo quy định.

Ngày 30/05/2017 ông Huỳnh Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 11/2017/HC-ST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bvới nội dung: Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm hủy Bản án số 11/2017/HC-ST ngày19/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng là đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Xét về thẩm quyền ban hành, nội dung ban hành quyết định số 21/QĐ ngày 17/02/1978 và quyết định số 1849/QĐ- UBND của UBND thành phố B là đúng thủ tục, trình tự giải quyết theo quy định pháp luật về đất đai.

Cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B là phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đúng quy định pháp luật nên đề nghị giữ nguyên bản sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu của ông T.

- Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện đại diện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B do ông Nguyễn Tấn L là đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 225 của Luật Tố tụng Hành chính năm 2015, xét xử vắng mặt người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa hôm nay, các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quan điểm. Người khởi kiện kháng cáo vẫn tiếp tục kháng cáo, các đương sự không cung cấp chứng cứ gì mới.

Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị: Kháng cáo của ông Huỳnh Văn T được thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Huỳnh Văn T, cho thấy:

Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định: Ngày 16/10/2006, Ủy ban nhân dân phường L ban hành Quyết định số 261/UBND về việc không cho ông Huỳnh Văn T đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích 14.000 m2 thuộc một phần thửa đất số 199, tờ bản đồ số 07 tại khu phố 4, phường L, thành phố B, Đồng Nai. Ông T không đồng ý với quyết định 261 nên đã làm đơn khiếu nại và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành quyết định số 284/QĐ ngày 08/11/2007 bác đơn khiếu nại của ông Tục, ông Tục không đồng ý nên tiếp tục khiếu nại. Căn cứ Điều 20 luật khiếu nại, tố cáo 2004, 2005 thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2 là của Chủ tịch UBND thành phố B. Do đó, chủ tịch UBND thành phố B ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số 1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền.

Về nội dung, phần diện tích đất 14.000 m2 nằm trong tổng số 36.137,8 m2 thuộc thửa số 199, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại khu phố 4, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mà ông Huỳnh Văn T xin đăng ký quyền sử dụng đất có nguồn gốc một phần do hộ gia đình ông T tự sử dụng, đào ao, nuôi cá trên Bàu ông Phủ Th5 với diện tích 5.400 m2 và một phần do ông T nhận chuyển nhượng trái phép với diện tích 8.600 m2 của các hộ ông Nguyễn Văn B1, bà Ngô Thị U, ông Mai Văn T6. Căn cứ theo quyết định 188/CP ngày 25/9/1975 của Hội đồng chính phủ về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam, từ năm 1978 đến nay Nhà nước chưa có quyết định giao đất nông nghiệp chính thức hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ hộ gia đình, cá nhân nào để sử dụng ổn định lâu dài. Bên cạnh đó, ngày 17/02/1978 Ủy ban nhân dân thành phố B đã ban hành quyết định số 21 thu hồi tất cả đất rẫy, vườn cây ăn trái của ông Võ Hà Th2 ở xã L và xã Tân Th4 (nay là phường L). Do đó, diện tích đất 36.247,8 m2 thuộc thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7 trong đó bao gồm cả 14.000 m2 đất hiện ông T đang khiếu nại là thuộc sự quản lý của Nhà nước.

Năm 2000 phường L đã tiến hành kê khai, đăng ký vào sổ địa chính thửa đất số 199, tờ bản đồ số 7 là loại đất nông nghiệp dành cho công ích của phường. Như vậy, Ủy ban nhân dân phường L là đại diện chủ sở hữu và chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân thành phố đối với việc sử dụng diện tích đất tại thửa số 199, tờ bản đồ số 7 gồm 36.247,8 m2. Thửa 199 không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào. Mặt khác việc ông Huỳnh Văn T cho rằng toàn bộ diện tích 14.000 m2 là của ông khai phá 5.400 m2 và sang nhượng lại của ông Huỳnh Văn B1 ngày 15.06.1999 (3.800 m2); bà Ngô Thị U ngày 06.10.1999 (3.200 m2) và ông Mai Văn T6 ngày 31.03.2000 (1.600 m2) đều là đất tự lấn chiếm và mua bán trái phép. Bởi vì trước đó Nhà nước đã có quyết định số 21/QĐ ngày 17.02.1978 toàn bộ diện tích 36.247,8 m2 bao gồm 14.000 m2 mà ông T khiếu nại xin cấp chủ quyền. Hơn nữa, thực tế thì năm 2000 UBND phường L đã được giao quản lý phần đất trên và đả đăng ký vào sổ địa chính tại biên nhận số 2925/TT-KT-ĐC ngày 28.06.2000. Ông T xin đăng ký vào 2006 nên không được chấp nhận.

Vì vậy, quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố B về việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của ông Huỳnh Văn T là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Huỳnh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015,

Bác kháng cáo của ông Huỳnh Văn T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 11/2017HC-ST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 3, Điều 31, Điều 146, Điều 157, Điều 158,Điều 164, Điều 193, Điều 194; Điều 349 Luật tố tụng Hành chính 2015 và khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH-13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội;

Áp dụng Điều 20 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, 2005; Điều 6 Luật đất đai năm 1993; Điểm 3, Khoản I.3, Mục I Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính; khoản 4, Điều 7 Luật đất đai năm2003; khoản 2 - Điều 2 và điểm b, khoản 2 Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc hủy quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất số1849/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B.

- Về án phí:

Ông Huỳnh Văn T phải chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 009166 ngày 03.05.2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


120
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2017/HC-PT ngày 29/09/2017 về khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất

Số hiệu:17/2017/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Nai
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:29/09/2017
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về