Bản án 17/2017/LĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp bảo hiểm xã hội

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 17/2017/LĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2017/TLST-LĐ ngày 19/5/2017 về “Tranh chấp tiền bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2017/QĐXXST-LĐ ngày 14/8/2017; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2017/QĐST-LĐ ngày 31/8/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Cao Ngọc S, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: X Ngõ Y phố Q, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội.

2. Ông Nguyễn Đức D, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

3. Ông Lê Tâm Anh T, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: X Bùi Thế Mỹ, phường Y, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

4. Ông Trần Xuân T, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

5. Bà Nguyễn Thị Lê T, sinh năm: 1977.

Địa chỉ: K Phú Thành, quận H, thành phố Đà Nẵng.

6. Bà Đoàn Thị Liên T, sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Tổ X, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

7. Bà Phan Thị Kim Y, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

8. Bà Huỳnh Mộng H, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Tổ X, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

9. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Tổ X, ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

10. Ông Nguyễn Tấn T sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Tổ X, ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

11. Bà Bùi Hoàng L, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số X, Ngõ Y, phố T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

12. Ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

13. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966

Địa chỉ: Tổ X, ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

14. Ông Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1979

Địa chỉ: Tổ X, ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

15. Ông Lê Hoài N, sinh năm 1973

Địa chỉ: X Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

(Các đồng nguyên đơn vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của các đồng nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ X, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH Gạch men M

Địa chỉ: Khu công nghiệp M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Albert Low C - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội tỉnh B;

Địa chỉ: X Trương Công Định, phường Y, Tp. V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Duy H - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Hồng H, sinh năm 1977; Chức vụ: Trưởng phòng khai thác và thu nợ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án các nguyên đơn trình bày:

1/ Ông Cao Ngọc S làm việc tại công ty TNHH Gạch Men M (Công ty M) từ tháng 5/2010, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông S yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

2/ Ông Nguyễn Đức D làm việc tại công ty M từ tháng 9/2008, có ký hợp đồng lao động đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông D yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

3/ Ông Trần Xuân T làm việc tại công ty M từ tháng 06/2010, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

4/ Ông Lê Tâm Anh T làm việc tại Công ty M từ ngày 01/2011, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

5/ Bà Nguyễn Thị Lệ T làm việc tại Công ty M từ ngày 02/2008, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay bà T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

6/ Bà Đoàn Thị Liên T làm việc tại công ty M từ tháng 09/1999, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay bà T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

7/ Bà Phan Thị Kim Y làm việc tại công ty Mỹ Đức từ tháng 08/1999, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay bà Y yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

8/ Ông Nguyễn Tấn T làm việc tại Công ty M từ tháng 02/2011, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

9/ Ông Nguyễn Công Đ làm việc tại Công ty M từ tháng 11/2007, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông Đ yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 9/2014.

10/ Ông Lê Hoài N làm việc tại Công ty M từ tháng 10/1998, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông N yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

11/ Ông Huỳnh Ngọc T làm việc tại Công ty M từ tháng 10/1999, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

12/ Ông Nguyễn Văn T làm việc tại Công ty M từ tháng 01/2003, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

13/ Ông Bùi Hoàng L làm việc tại Công ty M từ tháng 09/2003, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay ông L yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

14/ Bà Huỳnh Mộng H làm việc tại Công ty M từ tháng 09/1999, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay bà H yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

15/ Bà Trần Thị T làm việc tại công ty TNHH Gạch Men M từ tháng 09/1999, có ký hợp đồng lao động, đến khi Công ty ngừng hoạt động (tháng 02/2015). Khi liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chốt sổ thì được biết Công ty M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm xã hội của người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Nay bà T yêu cầu Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm thuộc bảo hiểm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015.

Mức đóng và số tiền bảo hiểm mà Công ty M phải đóng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn: Công ty TNHH Gạch Men M, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc, hòa giải, xuất trình chứng cứ và tham gia phiên tòa là tự từ bỏ quyền nghĩa vụ của mình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trình bày:

Bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được biết Công ty TNHH Gạch Men M đã chấm dứt hoạt động theo thông báo số 36/TB-BQL-ĐT ngày 19/6/2017 của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Qua rà soát thông tin các đơn vị nợ hiện nay công ty TNHH Gạch Men M còn nợ bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tính đến ngày 31/5/2017 là 18.196.834.482 đồng. Đối với 17 nguyên đơn trong vụ án hiện công ty TNHH Gạch men M còn nợ tổng số tiền bảo hiểm xã hội là 1.319.624.821 đồng, trong đó nợ gốc 844.147.195 đồng và nợ lãi phát sinh do chậm nộp là 475.477.626 đồng từ thời điểm tháng 6/2012 đến nay. Nay Bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc công ty TNHH Gạch Men M nộp ngay vào quỹ Bảo hiểm xã hội số tiền trên, để thực hiện chế độ bảo hiểm theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa; Đối với đương sự đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét có đủ căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các nguyên đơn khởi kiện công ty TNHH gạch men M có trụ sở tại khu công nghiệp M, huyện Tân Thành. Hội đồng xét xử xét thấy: đây là tranh chấp về bảo hiểm xã hội và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Công ty M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng nên hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy các nguyên đơn đều là người lao động và đều có ký hợp đồng lao động với Công ty M. Trong đó ông Cao Sơn N, Nguyễn Đức D, Trần Xuân T, Lê Tâm Anh T, bà Nguyễn Thị Lệ T, Đoàn Thị Liên T, Phan Thị Kim Y, ông Nguyễn Tấn T, ông Nguyễn Công Đ, ông Lê Hoài N, ông Huỳnh Ngọc T, ông Nguyễn Văn T, ông Bùi Hoàng L, bà Huỳnh Mộng H, bà Trần Thị T đều làm việc tại Công ty M cho đến khi công ty thông báo ngừng làm việc. Quá trình này Công ty đã lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, từ tháng 6/2012 đến nay Công ty M chưa đóng bảo hiểm theo quy định vào Quỹ bảo hiểm xã hội, lời khai của các nguyên đơn về thời gian chưa đóng bảo hiểm là phù hợp với danh sách nợ bảo hiểm mà Bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp tại tòa.

Các nguyên đơn cho rằng Công ty Mỹ cho tất cả người lao động nghỉ việc từ tháng 2/2015, hưởng lương chờ việc. Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội vẫn tính thu tiền bảo hiểm của người lao động đến tháng 4/2015 lý do tháng 11/2015 công ty M mới gửi danh sách báo giảm 198 người lao động tại đơn vị từ tháng 5/2015. Căn cứ khoản 4 Điều 16 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015, Hội đồng xét xử xét thấy cơ quan bảo hiểm tính bảo hiểm đến tháng 4/2015 là phù hợp.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định Công ty M đã không thực hiện đúng trách nhiệm của người sử dụng lao động được quy định tại Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về mức đóng và số tiền đóng bảo hiểm mà Công ty M phải đóng vào quỹ bảo hiểm được tính theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với bị đơn, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và tiến hành công khai chứng cứ nhưng phía công ty không đến tòa nộp ý kiến và cung cấp chứng cứ chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản bảo hiểm. Việc bị đơn vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng.

[3] Về án phí lao động sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí lao động sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 32, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 186 Bộ Luật lao động năm 2012; Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006; Điều 11, Điều 18, Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Ngọc S, Nguyễn Đức D, Trần Xuân T, Lê Tâm Anh T, bà Nguyễn Thị Lệ T, Đoàn Thị Liên T, Phan Thị Kim Y, ông Nguyễn Tấn T, ông Nguyễn Công Đ, ông Lê Hoài N, ông Huỳnh Ngọc T, ông Nguyễn Văn T, ông Bùi Hoàng L, bà Huỳnh Mộng H, bà Trần Thị T.

2. Buộc công ty TNHH gạch men M phải đóng bảo hiểm xã hội (gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp) vào Quỹ bảo hiểm cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với ông Cao Ngọc S, Nguyễn Đức D, Trần Xuân T, Lê Tâm Anh T, bà Nguyễn Thị Lệ T, Đoàn Thị Liên T, Phan Thị Kim Y, ông Nguyễn Tấn T, ông Lê Hoài N, ông Huỳnh Ngọc T, ông Nguyễn Văn T, ông Bùi Hoàng L, bà Huỳnh Mộng H, bà Trần Thị T từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2015; ông Nguyễn Công Đ từ tháng 6/2012 đến tháng 9/2014.

3. Mức đóng và số tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp mà Công ty TNHH gạch men M phải đóng vào quỹ bảo hiểm được áp dụng và tính theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

4. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH gạch men M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


201
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về