Bản án 17/2018/DS-ST ngày 16/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, TP. Đ

BẢN ÁN 17/2018/DS-ST NGÀY 16/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 16/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N Tp Đ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2018/TLST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Công ty TC

Địa chỉ: Tầng 2 tòa nhà Ree, số 9 Đoàn Văn Bơ, phường 12, quận 4, TP H Người đại diện theo pháp luật ông Lô B – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm T.H – Chức vụ: Trưởng nhóm tố tụng – phòng thu hội nợ pháp lý – Trung tâm thu hồi nợ Công ty TC (Theo văn bản ủy quyền số 80 ngày 13/6/2018)

Bà Hạnh ủy quyền cho ông Lê N tham gia tố tụng (theo văn bản ủy quyền số 3731 ngày 31/7/2018) - Ông Ncó mặt.

- Bị đơn: Ông Mai D, sinh năm: 1976

Trú tại: tổ 23, phường H, quận N, TP Đ – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/7/2018, các bản trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê N trình bày:

Vào ngày 12/10/2015, ông Mai D có ký hợp đồng tín dụng số 20151015-500000- 0057 với công ty TC vay số tiền 29.540.000đ, lãi suất thỏa thuận là 2.92%/tháng để tiêu dùng cá nhân.

Theo hợp đồng ông D có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền 48.087.000đ, trả chậm liên tiếp trong hạn 36 tháng, 35 tháng đầu trả mỗi tháng 1.337.000đ, tháng cuối cùng 1.292.000đ, ông D bắt đầu trả từ ngày 15/11/2015.

Thực hiện hợp đồng ông D đã trả cho Công ty TC 10 lần với tổng số tiền 13.370.000đ. Kể từ ngày 17/09/2016 đến nay ông Mai D không trả khoản nào cho Công ty TC, dù Công ty TC đã nhiều lần nhắc nhở.

Vì vậy, tại phiên tòa hôm nay Công ty TC yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Mai D trả số tiền nợ gốc 24.110.758đ, tiền lãi là 10.606.242đ. Tổng cộng là 34.717.000đ. Công ty TC thống nhất không tính thêm lãi tiếp theo đối với số nợ nói trên, sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Mai D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì sẽ áp dụng mức lãi suất theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn ông Mai D trình bày: Ngày 12/10/2015 ông có ký hợp đồng tín dụng số 20151015-500000-0057 với Công ty TC vay số tiền 29.540.000đ, lãi suất thỏa thuận là 2.92%/tháng. Theo hợp đồng ông có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền 48.087.000đ, trả chậm liên tiếp trong hạn 36 tháng, 35 tháng đầu trả mỗi tháng 1.337.000đ, tháng cuối cùng 1.292.000đ, ông bắt đầu trả từ tháng 11/2015.

Hiện nay ông còn nợ Công ty TC số tiền 24.110.758đ, và tiền lãi 10.606.242đ. Nhưng nay do hoàn cảnh khó khăn nên ông xin Ngân hàng giảm tiền lãi và cho ông trả hàng tháng mỗi tháng 1.337.000đ cho đến khi thanh toán xong số nợ trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải nhiều lần nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Căn cứ quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

 [2] Về nội dung tranh chấp: Vào ngày 12/10/2015, ông Mai D có ký hợp đồng tín dụng đô 20151015-500000-0057 với Công ty TC vay số tiền 29.540.000đ, lãi suất thỏa thuận là 2.92%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Đây là quan hệ dân sự về hợp đồng tín dụng được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Căn cứ lời trình bày Công ty TC và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Theo hợp đồng ông D có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền 48.087.000đ, trả chậm  liên tiếp trong hạn 36 tháng, 35 tháng đầu trả mỗi tháng 1.337.000đ, tháng cuối cùng 1.292.000đ, ông D bắt đầu trả từ ngày 15/11/2015.

Thực hiện hợp đồng ông D đã trả cho Công ty TC 10 lần với tổng số tiền 13.370.000đ. Kể từ ngày 17/09/2016 đến nay ông Mai D không trả khoản nào cho Công ty, dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Mai D thừa nhận hiện nay ông còn nợ Công ty TC số tiền 24.110.758đ, và tiền lãi 10.606.242đ. Nhưng nay do hoàn cảnh khó khăn nên ông xin Ngân hàng giảm tiền lãi và cho ông trả hàng tháng mỗi tháng 1.337.000đ cho đến khi thanh toán xong số nợ trên. HĐXX xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ ngày 12/9/2018 đến nay đã hơn 02 tháng mặc dù đã bị khởi kiện tại Tòa án nhưng ông D vẫn không trả thêm cho Công ty TC bất cứ khoản nợ nào. Điều đó thể hiện ông D đã không có thiện chí trả nợ và việc xin được trả số tiền trên hàng tháng là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn nên không được HĐXX chấp nhận.

Trên cơ sở hồ tài liệu chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và trình bày của bị đơn, HĐXX xét thấy đủ cơ sở để áp dụng Điều 466 Bộ luật dân sự tuyên buộc ông Mai D phải có nghĩa vụ trả Công ty TC một lần số tiền 34.717.000đ (Trong đó nợ gốc 24.110.758đ, tiền lãi là 10.606.242đ) là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Công ty TC thống nhất không tính lãi tiếp theo đối với số nợ trên. Sau này khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì sẽ áp dụng mức lãi theo quy định pháp luật. Xét thấy đây là sự tự nguyện về việc tính lãi của nguyên đơn nên HĐXX nghi nhận.

 [3] Về Án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty TC đối với ông Mai D được HĐXX chấp nhận nên ông D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 34.717.000đ x 5% = 1.735.850đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Các Điều 357, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, Điều 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TC đối với ông Mai D;

Tuyên xử:

 [1] Buộc ông Mai D phải trả cho Công ty TC số tiền 34.717.000đ (ba mươi tư triệu bảy trăm mười bảy ngàn đồng); Trong đó nợ gốc 24.110.758đ; tiền lãi là 10.606.242đ.

 [2] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

 [3] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mai D phải chịu 1.735.850đ (một triệu bảy trăm ba mươi lăm ngàn tắm trăm năm mươi đồng).

 [4] Công ty TC được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 867.500đ theo biên lai thu số 0001804 ngày 06 tháng 9 năm 2018 của cơ quan thi hành án dân sự quận N, TP Đ.

 [5]Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2018/DS-ST ngày 16/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:17/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về