Bản án 17/2018/HS-ST ngày 15/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 17/2018/HS-ST NGÀY 15/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 03 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2018/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/HSST-QĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

PHAN NGUYỄN TRUNG P - Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1999 tại  TP Đà Nẵng - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 49 (36 cũ) phường P, quân L, thành phố Đà Nẵng - Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông  Phan Trung H (còn sống) và bà Nguyễn Thị Nhật H (còn sống); bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án: Chưa

Tiền sự: Ngày 18/01/2017, bị Công an phường K, quận K, TP Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/12/2017; tạm giam ngày 12/12/2017. Có mặt tại phiên tòa.

-  Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Nhật H; sinh năm 1976; Trú tại: Tổ 33, phường M, quận T, Tp. Đà Nẵng. (có mặt)

-  Người làm chứng: Anh Võ Bá Nguyên L;  sinh năm 1988; Trú tại: Tổ 32, phường T, quận C, Tp. Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19h45’ ngày 03/12/2017, tại trước số nhà 16 đường K, P. T, Q. C, Đội điều tra tội phạm về ma túy Công an Q. C bắt quả tang Phan Nguyễn Trung P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của P:

- 05 (năm) gói nilon được hàn kín (kích thước: 03cmx02cm), bên trong có chứa chất tinh thể rắn, màu trắng được bỏ trong 01 (một) gói thuốc lá hiệu Craven, đã được niêm phong (ký hiệu là A).

- 01 (một) điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu vàng, chứa sim số 0935.670.872 và 0901.279.795.

- 01 xe máy có dòng chữ Airblade, màu đen BKS 43G1-269.91.

Theo Kết luận số 665/GĐ-MT ngày 08/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kết luận: Tinh thể rắn, màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi đi giám định là ma túy, loại Ketamine, trọng lượng tinh thể là 2,625 gam. Đối tượng giám định hoàn lại niêm phong, gồm: 2,000 gam tinh thể và toàn bộ bao gói mẫu.

Qua điều tra xác định: Khoảng 12h00’ ngày 02/12/2017, một người bạn tên T (quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch) đưa cho P 05 gói ma túy để P cất giữ và nói với P là ngày 03/12/2017 đi chơi thì mang đi để sử dụng. Đến khoảng 19h45’ ngày 03/12/2017, P mang theo số ma túy trên để sử dụng thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, Phan Nguyễn Trung P đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSHC ngày  02/ 02/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận C, TP Đà Nẵng đã truy tố Phan Nguyễn Trung P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở việc hỏi và tranh luận giữa những người tham gia tố tụng công khai, dân chủ và không bị hạn chế,

- Bị cáo Phan Nguyễn Trung P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

-  Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 194 BLHS 1999, điểm g Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015, Điều 38 BLHS 2015 đề nghị xử phạt: Bị cáo Phan Nguyễn Trung P từ 12 tháng đến 15 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về xử lý vật chứng: tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu 01 điện thoại di dộng màu vàng, hiệu Samsung, số Imei 1: 3533709119612201 và Imei 2: 35331809119612001, có sim số: 0935.670.872 và 0901.279.795 ; tuyên trả cho Phan Nguyễn Trung P 01 xe môtô hiệu nhãn hiệu Airblade màu đen, BKS 43G1-269.91, số khung: 6305FZ619876, số máy: JF63E1144123 do Phan Nguyễn Trung P làm chủ sở hữu.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Phan Nguyễn Trung P đã thừa nhận khoảng 19 giờ 45 phút ngày 03/12/2017, tại trước nhà số 16 đường K, phường T, quận C, Đà Nẵng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận C TP Đà Nẵng đã bắt quả tang bị cáo Phan Nguyễn Trung P có hành vi tàng trữ trái phép 2,625 gam ma túy loại Ketamin để sử dụng. Hành vi của bị cáo Phan Nguyễn Trung P đủ yếu tố cấu thành tội  “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy  bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên biết rất rõ tác hại của ma túy. Ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh, tạo ra ảo giác, là tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, được nhà nước quản lý nghiêm nhưng bị cáo vẫn bất chấp lao vào con đường phạm tội. Đối với loại tội phạm này cần phải được nghiêm trị nên cần cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. [4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo Phan Nguyễn Trung P đã từng bị Công an phường K TP Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/01/2017 nhưng bị cáo không rút ra bài học cho mình mà tiếp tục con đường phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, ông bà nội đều tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến hạng nhất, gia đình có hoàn cảnh khó khăn là tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét áp dụng chính sách khoan hồng của Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội quy định có lợi cho người phạm tội, căn cứ điểm g Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt nhẹ hơn Khoản 1 Điều 194 Bô luật hình sự 1999 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có thu nhập thấp, điều kiện kinh tế còn khó khăn, không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với đối tượng tên T có hành vi đưa ma túy cho Phan Nguyễn Trung P để sử dụng trái phép, hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ của T nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận  C TP Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[7] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng. Căn cứ quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:

Đối với 2,000 gam tinh thể và toàn bộ vỏ bao gói mẫu là đối tượng giám định hoàn lại đã niêm phong (ký hiệu A) nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di dộng màu vàng, hiệu Samsung, số Imei 1: 3533709119612201 và Imei 2: 35331809119612001, có sim số: 0935.670.872 và 0901.279.795 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.

Đối với 01 xe môtô hiệu nhãn hiệu Airblade màu đen, BKS 43G1-269.91, số khung: 6305FZ619876, số máy: JF63E1144123 do Phan Nguyễn Trung P làm chủ sở hữu xét thấy không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Phan Nguyễn Trung P là đúng quy định.

[9] Về án phí:  Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Nguyễn Trung P phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:  Bị cáo Phan Nguyễn Trung P phạm tội  “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng  Khoản 1 Điều 194 BLHS 1999, điểm g Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015, Điều 38 BLHS 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phan Nguyễn Trung P 12 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/12/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu huỷ: 2,000 gam tinh thể và toàn bộ vỏ bao gói mẫu là đối tượng giám định hoàn lại đã niêm phong (ký hiệu A)

- Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di dộng màu vàng, hiệu Samsung, số Imei 1: 3533709119612201 và Imei 2: 35331809119612001, có sim số: 0935.670.872 và 0901.279.795.

-Trả lại cho Phan Nguyễn Trung P 01 xe môtô hiệu nhãn hiệu Airblade màu đen, BKS 43G1-269.91, số khung: 6305FZ619876, số máy: JF63E1144123 đứng tên chủ sở hữu là Phan Nguyễn Trung P. (Toàn bộ vật chứng nêu trên, hiện do Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu TP.Đà Nẵng cất giữ theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 02/02/2018)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Nguyễn Trung P phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


36
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về