Bản án 17/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 10/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2019/HSST ngày  04  tháng  3  năm  2019  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án  ra  xét  xử  số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Việt C, sinh năm 1979 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L và bà Nguyễn Thị N; có vợ: Phùng Thị Kim C và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 52/2014/HS-ST ngày 04/7/2014, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt Phan Việt C 01 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong bản án, đã xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2019 đến ngày 07/01/2019 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

+ Chị Trần Thanh T, sinh năm 1975; anh Võ Văn P, sinh năm 1970; Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã TH, huyện B, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Phùng Thị Kim C, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt

+ Anh Lê Duy T, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/12/2018, bị cáo Phan Việt C điều khiển xe mô tô loại 67 biển số 70-482.KS đến Trung tâm y tế huyện B, thuộc khu phố 1, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh để tìm tài sản trộm cắp. Khi bị cáo C đi ngang qua buồng bệnh nữ, khoa ngoại bị cáo C nhìn thấy 02 điện thoại Iphone 6 Plus, 01 điện thoại màu hồng phấn đang cắm sạc pin để trên bàn xây bằng gạch phía trên đầu giường bệnh và 01 điện thoại màu đen bạc trên đầu giường bệnh của chị Trần Thanh T, sinh năm 1975 và anh Võ Văn P, sinh năm 1970, cùng trú tại ấp T, xã TH, huyện B, tỉnh Tây Ninh là bệnh nhân đang điều trị. Bị cáo C lén lút đi vào lấy trộm 02 điện thoại. Sau khi trộm được 02 điện thoại nêu trên C điều khiển xe mô tô đi về nhà, trên đường đi về bị cáo C đã tháo sim trong 02 điện thoại vứt bỏ. Đến sáng ngày 23/12/2018, bị cáo C mang 02 điện thoại Iphone 6Plus đến tiệm điện thoại DT, do anh Lê Duy T, sinh năm 1985, trú tại ấp K, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh làm chủ bán được số tiền 1.700.000 đồng và bị cáo C đã sử dụng số tiền này tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 01/01/2019, bị cáo C đến Trung tâm y tế huyện B với ý định tìm tài sản trộm cắp thì bị bắt.

Ngày 01/01/2019, anh Lê Duy T đã giao 02 điện thoại Iphone 6Plus mua từ bị cáo Phan Việt C cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để phục vụ cho công tác điều tra.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Phan Việt C đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Kết luận định giá tài sản:

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 03/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 điện thoại Iphone 6Plus màu đen bạc, số imel: 53448606431752 có giá trị là 3.500.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 6Plus màu hồng phấn, số imel: 356999063247327 có giá trịlà 3.000.000 đồng. Tổng giá trị của 02 điện thoại là 6.500.000 đồng.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản:

- 01 (một) xe mô tô biển số 70 – 482KS, số máy 454338, số khung: 6595501887, nhãn hiệu: Lắp ráp nhãn hiệu: Lắp ráp là tài sản thuộc sở hữu chung của bị cáo và vợ  bị cáo là chị Phùng Thị Kim C;

-  01  (một)  điện  thoại di động hiệu HTC, màu trắngsố Imel 1: 352754080252931, số Imel 2: 352754080282938.

-   01  một)  điện  thoại  Iphone  6Plus  màu  đen  bạc,   số   imel: 53448606431752;

-   01 (một)  điện  thoại  Iphone  6Plus  màu  hồng  phấn,  số  imel: 356999063247327.

Ngày 09/01/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên ra Quyết định xử lý vật chứng số 07/QĐ-CQCSĐT trả lại 01 điện thoại Iphone 6Plus màu đen bạc, số imel: 53448606431752; 01 điện thoại Iphone 6Plus màu hồng phấn, số imel: 356999063247327 cho anh Võ Văn P và chị Trần Thị T là chủ sở hữu hợp pháp;

* Phần trách nhiệm dân sự: Anh Võ Văn P và chị Trần Thị T đã nhận lại 01 điện thoại Iphone 6Plus màu đen bạc, số imel: 53448606431752; 01 điện thoại Iphone 6Plus màu hồng phấn, số imel: 356999063247327 nên không yêu cầu bị cáo Phan Việt C bồi thường gì thêm.

Anh Lê Duy T đã nhận số tiền 700.000 đồng do chị Phùng Thị Kim C là vợ bị cáo Phan Việt C bồi thường nên không yêu cầu bị cáo Phan Việt C bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-KSĐT, ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Việt C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Việt C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Việt C từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Bị cáo Phan Việt C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị hại anh Võ Văn P, chị Trần Thị T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Duy T vắng mặt và trong quá trình điều tra không yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản bị thiệt hại.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củaCơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/12/2018, bị cáo Phan Việt C đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 điện thoại hiệu Iphone 6 Plus của chị Trần Thanh T và anh Võ Văn P, tại Trung tâm y tế huyện B, thuộc khu phố 1, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được định giá thành tiền là 6.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phan Việt C đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

 [3] Do đó, Bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-KSĐT, ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Việt C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 [4] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

 [5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

 [6] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo vận động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Duy T số tiền 700.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên việc đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên là có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức án khi quyết định hình phạt.

 [7] Về nhân thân: Tại bản án số 52/2014/HS-ST ngày 04/7/2014, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt Phan Việt C 01 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong bản án, đã xóa án tích nhưng điều đó thể hiện nhân thân của cáo xấu.

 [8] Hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế, khả năng thi hành của bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Võ Văn P, chị Trần Thị T đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Duy T đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với anh Nguyễn Duy T khi mua điện thoại của bị cáo Phan Việt C không biết đó là tài sản do bị cáo C phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Biên không xử lý về trách nhiệm hình sự đối với anh T là đúng pháp luật.

 [9] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại Iphone 6Plus màu đen bạc, số imel: 53448606431752 và 01 điện thoại Iphone 6Plus màu hồng phấn, số imel: 356999063247327, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu anh Võ Văn P và chị Trần Thị T là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

-  01(một) xe  mô  tô  biển  số  70  –  482KS,  số  máy 454338,  số  khung: 6595501887, nhãn hiệu: Lắp ráp là tài sản thuộc sở hữu chung của bị cáo và vợ bị cáo là chị Phùng Thị Kim C, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội, cần tuyên trả cho bị cáo C và vợ bị cáo là chị Phùng Thị Kim C;

-  01  (một)  điện  thoại  di  động  hiệu  HTC,  màu  trắng,  số  Imel  1: 352754080252931, số Imel 2: 352754080282938 là tài sản của bị cáo Phan Việt C, do không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

 [10] Về án phí: Bị cáo Phan Việt C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Việt C 01(một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 01/01/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên trả cho bị cáo Phan Việt C và chị Phùng Thị Kim C: 01 (một) xe mô tô biển số 70 – 482KS, số máy 454338, số khung: 6595501887, nhãn hiệu: Lắp ráp.

Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên tiếp tục tạm giữ (một) điện thoại di động hiệu HTC, màu trắng, số Imel 1: 352754080252931, số Imel 2: 352754080282938 để đảm bảo việc thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật thi hành án dân sự.

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tìa sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1  Điều 23  Nghị quyết  326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016  của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phan Việt C chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về