Bản án 1765/2018/HNGĐ-ST ngày 28/11/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1765/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 461/2018/TLST-HNGĐ ngày 12/9/2018 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5344/2018/QĐXX-ST ngày 14/11/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Thường trú: 53/1 ấp Mỹ, xã Đại Đ, huyện Thạnh P, tỉnh Bến T.

Cư trú: 02 Hòa B, khu phố 4, phường Bình T, quận Thủ Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lê Đình T1, sinh năm 1966 (vắng mặt)

Quốc tịch: Hoa Kỳ Địa chỉ: USA.

Cư trú: USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 25/8/2018 và bản tự khai - bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Đình T1 kết hôn vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 14/2015, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến T cấp ngày 26/01/2015. Sau khi kết hôn ông T1 quay về Hoa Kỳ làm việc, bà N tiếp tục ở lại Việt Nam sinh sống. Do khoảng cách địa lý xa nên ít gặp nhau, vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống dẫn đến thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng sống xa cách nên không thể thông cảm, chia sẻ với nhau. Trong suốt thời gian qua vợ chồng đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Đình T1.

Về việc nuôi con: Không có. Về chia tài sản: Không có.

Về nợ: Không có.

Tại bản tự khai ngày 18/9/2018 được Tổng Lãnh sự quán nước CHXHCN Việt Nam tại Hiu - Xtơn, Texas, Hoa Kỳ hợp pháp hóa lãnh sự chứng thực chữ ký ngày 05/10/2018 - ông Lê Đình T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Kim N kết hôn vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 14/2015, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến T cấp ngày 26/01/2015. Do khoảng cách địa lý nên vợ chồng ít gặp nhau, vợ chồng có nhiều khác biệt trong quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay ông xác định không còn tình cảm với vợ, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân đã quá trầm trọng nên ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim N.

Về việc nuôi con: Không có.

Về chia tài sản: Không có. Về nợ: Không có.

Ông Lê Đình T1 và bà Nguyễn Thị Kim N có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Ngày 25/8/2018, bà Nguyễn Thị Kim N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Đình T1. Ông Lê Đình T1 hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Lê Đình T1 và bà Nguyễn Thị Kim N có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

2 - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đình T1 và bà Nguyễn Thị Kim N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14/2015, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến T cấp ngày 26/01/2015, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông T1 và bà N đều thừa nhận thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và do cuộc sống xa cách nên không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng cho nhau, cả hai đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Do đó, có cơ sở xác định ông T1 và bà N đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn với ông T1.

- Về việc nuôi con: Không có.

- Về chia tài sản: Không có.

- Về nợ: Không có.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim N là nguyên đơn yêu cầu ly hôn, nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim N.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Lê Đình T1.

- Về việc nuôi con: Không có.

- Về chia tài sản: Không có.

- Về nợ: Không có.

3 2. Bà Nguyễn Thị Kim N phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Kim N đã nộp theo biên lai số AA/2017/0049669 ngày 12/9/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Kim N đã nộp đủ án phí.

3. Bà Nguyễn Thị Kim N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; ông Lê Đình T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1765/2018/HNGĐ-ST ngày 28/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:1765/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về