Bản án 178/2017/DS-ST ngày 26/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 178/2017/DS-ST NGÀY 26/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Vào ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 519/2017/TLST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2017/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2017/QĐST-DS ngày 08/9/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; địa chỉ: 89 L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Chị Phạm Như Q, sinh năm 1987; địa chỉ: 82/1 khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ngày 03/7/2017), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Thu O, sinh năm 1982; địa chỉ: 47/7 khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là chị Phạm Như Q trình bày:

Ngày 15/8/2014, chị Trần Thị Thu O và Ngân hàng TMCP V (gọi tắt Ngân hàng) ký đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20140823 – 500002 – 0052 vay số tiền 23.100.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, trả chậm trong vòng 24 tháng với số tiền 40.632.000 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), 23 tháng đầu mỗi tháng trả 1.675.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.107.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu thanh toán từ ngày 01/10/2014.

Thực hiện hợp đồng, chị Trần Thị Thu O đã thanh toán được 13 lần với số tiền 21.825.000đồng. Kể từ ngày 12/3/2016, chị Trần Thị Thu O không thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Tính đến ngày khởi kiện, chị Trần Thị Thu O còn nợ Ngân hàng số tiền 18.807.000 đồng; trong đó: Nợ gốc là 14.165.817 đồng, nợ lãi là 4.641.183 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu chị Trần Thị Thu O phải trả số nợ trên.

- Về phía bị đơn chị Trần Thị Thu O, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu chị Trần Thị Thu O có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của Ngân hàng. Vào ngày 21/8/2017, Tòa án triệu tập chị Trần Thị Thu O tham gia phiên hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Ngày 08/9/2017 và ngày 26/9/2017 Tòa án mở phiên tòa nhưng chị Trần Thị Thu O vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến và cũng không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì đối với các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Do đó, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Tòa án nhận định:

 [1] Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu chị Trần Thị Thu O có địa chỉ 47/7 khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương phải trả số tiền nợ 18.807.000 đồng phát sinh từ đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 15/8/2014. Vì vậy, đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [2] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thì Thời hiệu khởi kiện….tranh chấp hợp đồng là một năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu khởi kiện biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Từ ngày 12/03/2016, chị Trần Thị Thu O không thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngày 06/7/2017, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ nên thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vẫn còn.

[3] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, chị Phạm Như Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn chị Trần Thị Thu O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa ngày 08/9/2017 và ngày 26/9/2017 nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

 [4] Xét đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 15/8/2014 được giao kết giữa Ngân hàng với chị Trần Thị Thu O đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị Trần Thị Thu O đã thanh toán cho Ngân hàng được 13 lần là 21.825.000 đồng. Kể từ ngày 12/3/2016 đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện, chị Trần Thị Thu O không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, như vậy chị Trần Thị Thu O đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị Trần Thị Thu O phải trả số tiền nợ là 18.807.000 đồng; trong đó: Nợ gốc là 14.165.817 đồng, nợ lãi là 4.641.183 đồng, chị Trần Thị Thu O không có ý kiến gì. Căn cứ vào đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, bảng tính lãi, lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp, có sơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

 [5] Do đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 15/8/2014 không thỏa thuận về lãi quá hạn nên để bảo đảm quyền lợi của bên được thi hành án, trong trường hợp này bên phải thi hành án chậm thanh toán đối với nghĩa vụ trả tiền, cần buộc bên có nghĩa vụ trả tiền phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

 [6] Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là phù hợp.

 [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu O phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Buộc chị Trần Thị Thu O có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ phát sinh từ đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 15/8/2014 là 18.807.000 (mười tám triệu tám trăm lẻ bảy nghìn) đồng; trong đó: Nợ gốc là 14.165.817 (mười bốn triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm mười bảy) đồng và nợ lãi là 4.641.183 (bốn triệu sáu trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm tám mươi ba) đồng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu O phải chịu 940.350 (chín trăm bốn mươi nghìn ba trăm năm mươi) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 470.000 (bốn trăm bảy mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009849 ngày 14/7/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

4. Ngân hàng TMCP V và chị Trần Thị Thu O vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 178/2017/DS-ST ngày 26/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:178/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về