Bản án 18/2017/HSST ngày 07/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 18/2017/HSST NGÀY 07/09/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, Toà án nhân dân huyện Ngân Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2017/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Khánh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/8/1985 tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Số 78, tổ 1, ngõ 592, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1963 và bà Trần Thị H, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là Ngàn Thu P, sinh năm 1986 và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2017 đến ngày 08/6/2017 được tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

1- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1936 - Trú tại: Xóm Cổ Dạ, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (đã chết).

2- Bà Mai Thị V, sinh năm 1956 - Trú tại: Khu 2, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (đã chết).

- Người bị hại đồng thời là người đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thị B và Mai Thị V: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1956; nghề nghiệp: Bộ đội nghỉ hưu - Trú tại: Khu 2, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.

3- Ông Ninh Thế B, sinh năm 1954 - Trú tại: Khu 2, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

4- Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1963 - Trú tại: Khu 2, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH Một thành viên VA - Địa chỉ: Tổ 1, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H - Giám đốc Công ty (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

*Người làm chứng:

- Anh Đinh Doãn M, sinh năm 1982 - Trú tại: Khu 2, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).

- Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1983 - Trú tại: Khu 2, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Khánh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 03/11/2016, Nguyễn Khánh T, sinh năm 1985, trú tại số 78, tổ 1, ngõ 529, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội (có giấy phép lái xe hạng FC có giá trị đến 24/12/2018) là lái xe của Công ty TNHH một thành viên Việt An, có địa chỉ tại tổ 1, thị trấn VA, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, được công ty giao điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 23C - 01749 kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát 23R-000.66 chở 32,5 tấn quặng đi từ huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang lên Cao Bằng. Cùng đi có phụ xe Vũ Thái H, sinh năm 1981, trú tại: Khu 6, xã Cáo Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Sáng ngày 04/11/2016, khi đi đến Km 212 QL3 thuộc khu II, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, là đoạn đường đèo, cua, xuống dốc, T điều khiển xe đi xuống dốc với tốc độ cao và sử dụng phanh để giảm tốc độ liên tục. Khi sắp đến khúc cua trái thì gặp xe máy đi ngược chiều, T dẫm phanh để giảm tốc độ nhưng phanh không có hiệu lực, T đánh lái sang phải tránh nhưng do lúc này xe đi nhanh T không làm chủ được tay lái nên bị đâm vào hộ lan bằng kim loại rồi đâm vào nhà ông Nguyễn Văn H và đầu hồi trái nhà bà Hoàng Thị T và ông Ninh Thế B. Hậu quả bà Nguyễn Thị B và bà Mai Thị V đang làm việc trước cửa nhà bị tử vong; nhà ông Nguyễn Văn H bị hư hỏng toàn bộ mái hiên, cửa sắt, góc phòng ngủ bên phải đằng trước bị sập, 01 xe máy BKS 97F7 - 14578 và nhiều vật dụng khác trong nhà bị hư hỏng; nhà ông Ninh Thế B, bà Hoàng Thị T bị sập đổ tường đầu hồi trái, tường 02 phòng ngủ, 01 ti vi Sam Sung 50 inch, 02 giường gỗ, 01 tủ tường, 01 tủ gỗ ép 3 buồng và một số tài sản khác trong nhà bà T bị hư hỏng.

Cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm, tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/11/2016 thể hiện:

* Về khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn xảy ra là đoạn đường cua trái hướng Hà Nội - Cao Bằng thuộc Km 212 + 600 QL3, mặt đường rải nhựa áp phan, có vạch kẻ tim đường, ngắt quãng, đường dốc về phía Cao Bằng, mặt đường rộng 7,20m, tiếp giáp bên trái đường hướng Hà Nội - Cao Bằng là mương xây chữ V rộng 1,30m, sâu 0,40m. Tiếp giáp là ta luy dương. Lề đường bên phải rộng 1,10m tiếp giáp là sân trước nhà. Tại hiện trường phát hiện các dấu vết được đánh số thứ tự như sau:

- Số 01 là vết lốp mài mặt đường hình cung, vòng bên trái hướng Hà Nội - Cao Bằng dài 35,40m, đầu vết cách lề đường chuẩn 3,15m, cách cột Km số 0 - 252B (Đường tỉnh lộ 252B đi xã Thuần Mang) là 59,0m, điểm cuối vết kết thúc tại lề đường bên phải hướng Hà Nội - Cao Bằng, cách lề đường chuẩn 6,70m, điểm rộng nhất của vết 01 là 0,50m.

- Số 02 nối tiếp số 01 là vết cày, mài trượt trên lề đường bên phải hướng Hà Nội - Cao Bằng, đo từ điểm đầu 02 đến lề chuẩn là 6,70m, vết 02 kết thúc tại bánh sau cùng bên phải của rơ moóc BKS 23R-000.66, dài 34,40m, điểm rộng nhất của vết là 0,94m.

- Số 03 là vết mài mặt đường màu đen, ngắt quãng, có chiều hướng Hà Nội - Cao Bằng kết thúc tại bánh sau cùng bên trái rơ moóc BKS 23R - 000.66 dài 30,80m, điểm rộng nhất là 0,55m, đầu vết 03 cách lề đường chuẩn 5,44m.

- Số 04 là rơ moóc BKS 23R - 000.66 đo từ đầu trục sau cùng bên trái 4 đến lề đường chuẩn là 7,60m, đo từ đầu trục đằng trước bên trái 5 đến lề chuẩn là 7,80m.

- Số 05 là đầu kéo BKS 23C - 017.49 đo từ đầu trục sau cùng bên trái của 5 đến lề đường chuẩn là 11,60m, đầu của 5 đâm xuyên vào tường đầu hồi bên trái nhà bà Hoàng Thị T, đo từ đầu trục sau cùng bên trái 4 đến cột H6/212 (KM 212 + 600 QL3) là 29,50m.

- Số 06 là vị trí nạn nhân Mai Thị V ở phía sau bánh trước bên trái của 5, đo từ 6 đến mép cửa chính của nhà bên trái là 2,50m, đo từ 6 đến tường trước cửa nhà là 1,30m (đo vuông góc).

- Số 07 là vị trí nạn nhân Nguyễn Thị B bị kẹt ở bên dưới đằng trước của bánh trước bên trái 5, đo từ 7 đến mép cửa chính của nhà bên trái là 3,25m, đo vuông góc đến tường đằng trước nhà là 2,45m, 7 cách 6 là 1,15m.

* Khám nghiệm phương tiện tham gia giao thông:

Xe ô tô BKS 23C - 017.49 toàn bộ cabin bị móp méo, rách cong vênh, biến dạng hoàn toàn theo chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái. Mặt nạ, ga lê, ba đờ sốc, két nước, điều hòa bị vỡ hỏng, cong vênh bị dồn ép sát vào phần máy theo chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái. Lốp trước bên phải bị bục, rách nham nhở, vết rách dài 65cm, rộng 20cm, mặt ngoài lốp có nhiều vết mài trượt. Tại vị trí vết rách dính nhiều bụi đất, vữa, tường nhà, mép la zăng bánh trước bên phải dính nhiều đất cát, vữa xây dựng, mép la zăng bị mài xước. Bình dầu bên phải xe bị xước, rách thủng, móp méo theo hướng từ trước ra sau. Xô sát lốp trục 2 bên phải xe. Lốp đằng trước bên trái xe, mặt ngoài lốp có nhiều vết trầy xước dính bụi đất, mặt ngoài lốp bị rách, vết rách nham nhở dài 60cm, rộng 25cm. Bông cầu trước bị xô lệch, đáy tắc te bị thủng, móp hướng trước - sau. Bưởng bò tiếp giáp hộp số bị nứt, vỡ dài 18cm, rộng 01cm. Giá đựng bình ắc quy, bình hơi bị trầy xước, vỡ, xô lệch theo hướng từ trước ra sau. Cổ hút bầu lọc gió bị vỡ tuột lẫy.

Xe sơmi rơ moóc BKS 23R - 000.66 giá để bạt bên trái rơ moóc bị cong gập hướng từ trước ra sau. Đầu góc thùng phía dưới bên trái rơ moóc dính nhiều bụi đất bị trầy xước sơn hướng từ ngoài vào trong, tập trung trên diện 35cm x 38cm. Trên thùng chở hàng (quặng) cao trung bình 60cm, phía trên đầu thùng rơ moóc có nhiều gạch, vữa tường nhà.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định kỹ thuật xe ô tô đầu kéo BKS 23C - 017.49 và sơmi rơ moóc biển kiểm soát 23R – 000.66. Tại biên bản giám định kỹ thuật ngày 18/11/2016 của Hội đồng kỹ thuật Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Kạn kết luận:

Xe ô tô đầu kéo BKS 23C - 017.49 không kiểm tra thực tế được vì sau khi xảy ra tai nạn xe biến dạng hoàn toàn. Tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 04/11/2016 xe đầu kéo BKS 23C - 017.49 đủ điều kiện lưu hành theo giấy chứng nhận kiểm định ATKT & BVMT số KA - 3977186 hết hạn kiểm định ngày 04/5/2017.

Xe sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 23R - 000.66 tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 04/11/2016 các hệ thống an toàn của sơ mi rơ moóc đảm bảo an toàn kỹ thuật theo giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số KA - 3977306 hết hạn kiểm định ngày 11/5/2017.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định dấu vết cơ học 02 lốp bánh trước (lốp dẫn hướng). Tại bản kết luận giám định số 5425/C54 (P3) ngày 30/12/2016 của Viện khoa học hình sự kết luận: Dấu vết trượt xước, thủng cao su ở má ngoài, má trong lốp bánh trước bên phải và ở má ngoài lốp bánh trước bên trái xe ô tô đầu kéo biển số 23C - 017.49 có chiều từ phía ngoài lốp vào phía trong lốp bánh xe, hình thành do va chạm với vật cứng có cạnh khi xảy ra tai nạn.

Tại biên bản ghi nhận tốc độ xe ô tô BKS 23C - 017.49 qua thiết bị giám sát hành trình của xe trong khoảng thời gian từ 09 giờ 30 phút 39 giây ngày 04/11/2016 đến 09 giờ 31 phút 06 giây ngày 04/11/2016 lập ngày 28/3/2017 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngân Sơn thể hiện: Tốc độ xe đạt cao nhất là 58km/h (lúc 09 giờ 28 phút 25 giây) và thấp nhất là 20km/h (lúc 09 giờ 27 phút 25 giây). Trước khi xảy ra tai nạn lúc 09 giờ 29 phút 26 giây xe về tốc độ 26km/h; sau đó đến 09 giờ 30 phút 26 giây xe đạt tốc độ 55km/h; đến 09 giờ 30 phút 36 giây xe đạt tốc độ 62km/h; đến 09 giờ 30 phút 46 giây xe đạt tốc độ 54km/h; đến 09 giờ 30 phút 56 giây xe đạt tốc độ 42km/h; đến 09 giờ 31 phút 06 giây xe về tốc độ 0km/h.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của các nạn nhân. Tại bản kết luận giám định số 41/KTHS - GĐPY ngày14/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Nạn nhân Nguyễn Thị B bị đa chấn thương làm gẫy xương cánh tay phải, xương cẳng tay hai bên và xương đùi phải; gẫy từ xương sườn số 01 đến xương sườn số 10 hai bên, gẫy xương ức; Vỡ xương hộp sọ gây tổn thương não bộ dẫn đến tử vong.

Tại bản kết luận giám định số 42/KTHS - GĐPY ngày 15/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Nạn nhân Mai Thị Vành bị đa chấn thương gây gẫy hai cánh tay; gẫy xương ức và xương sườn số 2,3,4,5,6 hai bên; vỡ xương hộp sọ, làm tổn thương não bộ dẫn đến tử vong.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/BB-HĐĐG ngày 17/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ngân Sơn kết luận: Một số tài sản bị hư hỏng của ông Nguyễn Văn H có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là 24.994.256đ (hai mươi tư triệu, chín trăm chín mươi tư nghìn, hai trăm năm sáu đồng); tài sản của ông Ninh Thế B bị hư hỏng có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là 68.417.736đ (sáu mươi tám triệu, bốn trăm mười bảy nghìn bảy trăm ba mươi sáu đồng).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Khánh T khai nhận: Khoảng 19h ngày 03/11/2016, T điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 23C - 017.49 kéo theo rơ moóc BKS 23R – 000.66 chở quặng từ huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang lên Cao Bằng. Đến sáng ngày 04/11/2016 khi đi xuống Đèo Gió - Ngân Sơn, T điều khiển xe bằng số 4 chậm, sử dụng phanh nhiều dẫn đến trơ phanh, phanh không hiệu lực nên xe đi nhanh, khi T điều khiển xe tránh người đi xe máy ngược chiều thì bị đâm vào hộ lan làm nổ lốp bên phải (lốp dẫn đường) rồi đâm vào 2 nhà dân gây tai nạn.

Tại bản cáo trạng số: 17/KSĐT - TA, ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Khánh T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 3 Điều 202 của Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

 “1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2…..

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội:"Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Áp dụng khoản 3 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo theo khoản 3 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội; để quyết định một mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

XÉT THẤY

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 19 giờ ngày 03/11/2016, Nguyễn Khánh T, sinh năm 1985, trú tại: Số 78, tổ 1, ngõ 592, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 23C - 017.49 kéo theo rơ moóc BKS 23R-000.66 chở 32,5 tấn quặng từ Hà Giang lên tỉnh Cao Bằng. Sáng ngày 04/11/2016 Tùng điều khiển xe xuống Đèo Gió là đoạn đường đèo, cua, xuống dốc, xe chở hàng nặng, Tùng điều khiển xe đi với tốc độ cao, sử dụng phanh nhiều dẫn đến phanh kém hiệu quả. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày khi xe đi gần hết Đèo Gió đến Km 212 +600 QL3 thuộc khu 2, xã Vân Tùng, thì phanh xe không hiệu lực, xe đi với tốc độ cao, T không làm chủ được tay lái đâm vào hộ lan mềm và nhà ông Nguyễn Văn H, bà Hoàng Thị T gây tai nạn. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị B và bà Mai Thị V bị tử vong; hư hỏng 02 nhà dân, 01 xe máy và nhiều tài sản khác với tổng thiệt hại là 93.411.992đ (chín mươi ba triệu, bốn trăm mười một nghìn, chín trăm chín mươi hai đồng).

Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không tuân thủ các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết 02 người và thiệt hại về tài sản là 93.411.992đ của Nguyễn Khánh T đã vi phạm khoản 3 Điều 4 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải và khoản 5 Điều 4 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Điều luật quy định:

 “Nguyên tắc chung khi điều khiển phương tiện trên đường bộ về tốc độ và khoảng cách.

…3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điểu khiển xe chạy với tốc độ phù hợp với điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông”.

Xét tính chất hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo không chấp hành Luật giao thông đường bộ, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 3 Điều 202 của Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009). Tuy nhiên áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì hành vi gây hậu quả làm chết 02 người và thiệt hại tài sản dưới 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS 2015.

Cụ thể Điều luật quy định:

 “1….

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) …

đ) Làm chết 02 người; …”

Như vậy đối chiếu quy định tại khoản 3 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) với quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thấp hơn so với quy định tại khoản 3 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009). Do vậy Hội đồng xét xử sẽ áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Do vậy có đủ căn cứ để khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo có ông bà ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương, mẹ đẻ của bị cáo là người có nhiều thành tích trong công tác được tặng nhiều Bằng khen; các bị hại và người đại diện hợp pháp của các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt chính: Qua xem xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô ý, bản thân sau khi phạm tội đã nhận thấy rõ lỗi lầm của mình, ăn năn hối cải vì vậy có đủ cơ sở để áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, qua đó cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình xã hội và phòng ngừa chung. Điều đó cũng thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho phía gia đình ông Ninh Thế B, bà Hoàng Thị T số tiền 215.000.000đ (hai trăm mười lăm triệu đồng), gia đình ông Nguyễn Văn H số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng). Những người bị hại và đại diện hợp pháp của những người bị hại đã chết đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu gì thêm do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

*Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Đối với 01 xe ô tô đầu kéo BKS 23C-017.49 và 01 sơ mi rơ moóc BKS 23R-000.66; 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc , sơ mi rơ moóc số 000057 – Biển số đăng ký 23R - 000.66 do Công an tỉnh Hà Giang cấp ngày 12/5/2015; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của ôtô đầu kéo 23C-017.49 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của sơ mi rơ moóc 23R-000.66, quá trình điều tra xét thấy không cần thiết phải tạm giữ nên cơ quan điều tra Công an huyện Ngân Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu, là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 Giấy phép lái xe số 010105008618 hạng FC mang tên Nguyễn Khánh T; xét thấy không cần thiết phải tịch thu, do vậy Tòa án đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo trước khi diễn ra phiên tòa ngày hôm nay.

*Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh T phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

1.1. Áp dụng khoản 3 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Khoản 3 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh T 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Khương Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2017/HSST ngày 07/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:18/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngân Sơn - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về