Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 14/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 18/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 841/2018/TLST-HNGĐ ngày 11/12/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn

Chị Phạm Thị B, sinh năm 1981.

Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Tạm trú: Số 479/19 khu phố A, Quốc lộ C, phường B, quận Đ, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn : Anh Lành H, sinh năm 1978.

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, ấp 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Phạm Thị B trình bày: Chị và anh Lành H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống, hai vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H không quan tâm vợ con, cờ bạc dẫn đến nợ nần. Tháng 4/2016 anh H bỏ nhà và đi khỏi địa phương, chị đã nhiều lần đi tìm anh H nhưng không có kết quả nên đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Thành tuyên bố anh H mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/QĐST-DS ngày 17/10/2018. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Lành H.

Về con chung: Hai vợ chồng anh chị có 02 người con chung là cháu Lành Phạm Thị B, sinh năm 2014 và cháu Lành Phạm K, sinh năm 2017. Hiện nay các con đang ở cùng với mẹ nên chị yêu cầu Tòa án giao hai con cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lành H: Đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành tuyên bố mất tích bằng Quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/QĐST-DS ngày 17/10/2018 đã có hiệu lực pháp luật. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh H nhưng anh H vẫn không có mặt tại địa phương và không ai biết anh H hiện nay đang làm gì, ở đâu.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, Phạm Thị B đẳng. Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị B, anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn, hiện nay anh H đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng và Tòa án đã tuyên bố mất tích đối với anh H. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị B đối với anh H. Về con chung giao hai con chung cho chị Phạm Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lành H bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng tại ấp 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai từ tháng 4/2016 và đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/QĐST-DS ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh Lành H. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị B và anh Lành H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã A, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60/2014 ngày 16/4/2014 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng chị Phạm Thị B, anh H phát sinh mâu thuẫn nhiều vấn đề trong cuộc sống và không thể hàn gắn, đến tháng 4/2016 anh H bỏ đi khỏi địa phương, chị Phạm Thị B đã tìm kiếm nhưng không có kết quả nên Tòa án đã tuyên bố anh H mất tích theo quy định của pháp luật. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Phạm Thị B và anh Lành H lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho chị Phạm Thị B được ly hôn với anh Lành H là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

[3] Về con chung: Giao hai cháu Lành Phạm Thị B, sinh năm 2014 và cháu Lành Phạm K, sinh năm 2017 cho chị Phạm Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời anh Lành H không phải cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có nên xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị B phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.

[6] Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử :

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị B. Chị Phạm Thị B được ly hôn với anh Lành H.

[2] Về con chung: Giao hai cháu Lành Phạm Thị B, sinh năm 2014 và cháu Lành Phạm K, sinh năm 2017 cho chị Phạm Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời anh Lành H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Lành H được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Phạm Thị B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Phạm Thị B đã nộp theo biên lai thu số 006961 ngày 11/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí chị Phạm Thị B phải nộp.

Chị Phạm Thị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lành H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 14/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:18/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về