Bản án 18/2019/HSST ngày 29/03/2019 về tội buôn bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 18/2019/HSST NGÀY 29/03/2019 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/TL - HSST ngày 11/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 19/3/2019, đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 06/11/1977; Nơi ĐKNKTT: thôn XB, xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: thôn XB, xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 03/10; bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1949; mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1943; vợ: Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1977, bố, mẹ và vợ đều cư trú tại xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch; con: 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 11/01/2019, Nguyễn Văn T đang ở nhà thì có một người đàn ông tự khai tên là Đặng Văn Trình, sinh năm 1980 ở thôn Vườn Tràng, xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch đến gặp T hỏi mua pháo. T đồng ý bán cho Trình 10 hộp pháo và thỏa thuận giá 680.000đ/1 hộp pháo, loại pháo giàn 36 quả, 10 hộp pháo có giá là 6.800.000đ và Trình hẹn tối sẽ quay lại. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Trình một mình đến gặp T ở sân nhà T. Tại đây, Trình đưa T 6.800.000đ như đã thỏa thuận, T cầm tiền cất vào túi quần đang mặc rồi vào nhà bê ra một thùng cát tông bên trong có 10 hộp hình khối chữ nhật thì cùng lúc này bị Công an huyện Lập Thạch kiểm tra lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: thu tại sân nhà T một hộp cát tông bên trong có 10 hộp hình khối chữ nhật, T khai là 10 hộp pháo của T để bán cho Trình được niêm phong ký hiệu P1; thu trong túi quần đang mặc của T số tiền 6.800.000đ, T khai là tiền của Trình vừa đưa cho T để mua pháo, trong đó có 03 tờ tiền mệnh giá 200.000đ có số seri lần lượt là: 14380697; 13446119; 13004285 và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ có số seri lần lượt là: 13563947 và 16963169; Thu trong túi áo khoác của Đặng Văn Trình một mảnh giấy nhỏ có ghi các con số: 3169, 3947, 0697, 6119, 4285, Trình khai là các số cuối của một số tờ tiền trong số tiền 6.800.000đ, Trình đã đưa cho T để mua pháo.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Văn T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 132/KLGĐ ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận số vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Trình: “10 (Mười) khối hộp gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có tổng khối lượng là 11,8kg (mười một phảy tám kilôgam)”.

Về nguồn gốc số pháo Cơ quan công an đã thu giữ, T khai: Khoảng tháng 4/2018, T gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực gầm cầu cao tốc thuộc địa phận xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch và nhờ người này mua của xe khách cao tốc đi tuyến Lạng Sơn 10 hộp pháo với giá 3.500.000đ. Do không xác định được tên tuổi, lai lịch và các thông tin khác của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với đối tượng tự khai là Đặng Văn Trình, sinh năm 1980 ở thôn Vườn Tràng, xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra Trình đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã xác minh trên địa bàn thôn Vườn Tràng, xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch nhưng không xác định được người có lai lịch như Trình đã khai báo nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với chị Đỗ Thị Thu Huệ là vợ của Nguyễn Văn T, ở cùng nhà với T. Tuy nhiên, chị Huệ không biết việc T mua bán, tàng trữ pháo nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lập Thạch không đề cập xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 08 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giḠtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy 01 hộp cát tông có trọng lượng 9,5kg là số pháo do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định.

Tịch thu của bị cáo T số tiền 6.800.000đ để sung quỹ Nhà nước. Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 mẩu giấy có ghi các con số 3169, 3947, 0697, 6119, 4285 thu của Đặng Văn Trình.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi khoảng 20 giờ ngày 11/01/2019 bán cho người đàn ông tự khai tên là Đặng Văn Trình, sinh năm 1980 ở thôn Vườn Tràng, xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch 10 hộp pháo với giá 680.000đ/1 hộp pháo thì bị Công an huyện Lập Thạch phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tang, vật chứng như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng, ngoài ra không có lời bào chữa nào khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tài liệu điều tra trong hồ sơ thể hiện, Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2019, Nguyễn Văn T đã bán cho một người đàn ông tự khai tên là Đặng Văn Trình, sinh năm 1980 ở thôn Vườn Tràng, xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch 10 hộp pháo tại sân nhà T. Tại đây, khi Trình đưa T 6.800.000đ, T cầm tiền cất vào túi quần đang mặc rồi vào nhà bê ra một thùng cát tông bên trong có 10 hộp hình khối chữ nhật thì bị Công an huyện Lập Thạch phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật chứng gồm: một hộp cát tông bên trong có 10 hộp pháo loại pháo giàn 36 quả được niêm phong ký hiệu P1; thu trong túi quần đang mặc của T số tiền 6.800.000đ; thu trong túi áo khoác của Đặng Văn Trình một mảnh giấy nhỏ có ghi các con số: 3169, 3947, 0697, 6119, 4285.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, tang vật chứng đã thu tại nhà bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Buôn bán hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “Người nào phạm tội thuộc một trong các hành vi sau đây…, thì bị phạt tiền từ 100.000.000đ đến 1.000.000.000đ, hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) …buôn báo pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo, gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi buôn bán pháo nổ thuộc sản phẩm hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi phạm tội, bị cáo T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi vụ án bị phát hiện và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo tham gia Quân đội được Nhà nước tặng Huy chương khánh chiến hạng nhì, nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo. Nhưng cũng phải là hình phạt tù cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000 đồng” ...,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng vụ án gồm có: Số tiền 6.800.000đ là số tiền Nguyễn Văn T có được do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối 01 hộp cát tông bên trong chứa số pháo có trọng lượng 9,5kg là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối 01 mẩu giấy có ghi các con số 3169, 3947, 0697, 6119, 4285 thu của Đặng Văn Trình, xét thấy là tài liệu chứng minh tội phạm nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn T 15.000.000đ để sung quỹ Nhà Nước.

Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu của bị cáo T số tiền 6.800.000đ để sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu để tiêu hủy 01 hộp cát tông có trọng lượng 9,5kg là số pháo do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định.

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 mẩu giấy có ghi các con số 3169, 3947, 0697, 6119, 4285 thu của Đặng Văn Trình.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2019/HSST ngày 29/03/2019 về tội buôn bán hàng cấm

Số hiệu:18/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về