Bản án 184/2017/HSST ngày 24/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 184/2017/HSST NGÀY 24/11/2017 VỀ  TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 24 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 162/2017/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Đoàn Quang P, sinh năm 1992 tại Thái Bình; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 9 T, xã A, huyện Q, Thái Bình; nơi ở: Không cố định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Quang Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1969; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: chưa: bị tạm giữ ngày 04/7/2017; tạm giam ngày 06/7/2017; có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Đoàn Quang P bị Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ 15’ ngày 03/7/2017, Tổ công tác thuộc Công an phường N, quận Lê Chân, Hải Phòng phát hiện và bắt quả tang Đoàn Quang P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực trước cửa nhà số 1/430 T, quận , Hải Phòng. Thu giữ trong lòng bản tay phải của P 06 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là heroin nên đã đưa P cùng vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 864/PC54(MT) ngày 07/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 06 gói giấy thu giữ của Đoàn Quang P trọng lượng Heroin có trong 0,3028 gam chất bột là 0,1925 gam.

Tại Cơ quan điều tra, P khai nhận: Khoảng 21h00’ ngày 03/7/2017, P gặp bạn là H (bạn xã hội, không rõ địa chỉ) ở khu vực chân cầu K. Qua nói chuyện với nhau H có đưa cho P số điện thoại của một người tên V và nhờ P đến gặp V để lấy 06 gói ma túy cho H và H trả công cho P 02 gói ma túy. P đồng ý và gọi vào số điện thoại H đưa thì gặp V và hẹn V ở trong ngõ 430 T. Sau đó, P đi vào sâu trong ngõ 430 T gặp V thì V đưa cho P 01 túi nilon bên trong có 06 gói ma túy. Khi nhận xong số ma túy trên P đi ra đến số 1/430 T thì bị công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.

Tại phiên tòa, Đoàn Quang P khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 187/CT-VKS ngày 26/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố Đoàn Quang P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên toà, sau khi tranh luận, đại diện Viện kiểm nhân dân quận Lê Chân khẳng định Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự  2015 xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù; bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ Luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1200 màu đen.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ khác có trong hồ sơ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo,

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Do nghiện ma tuý nên hồi 23 giờ 15’ ngày 03/7/2017, Đoàn Quang P đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp trong người 0,1925 gam heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 đủ cơ sở kết luận bị cáo Đoàn Qang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 2, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 hướng dẫn tiếp tục thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.

Đối chiếu với quy định về mức hình phạt tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (từ 01 đến 05 năm) thấp hơn quy định về mức hình phạt tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 (từ 02 đến 07 năm).

Vì vậy, Hội đồng xét xử khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt có lợi theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện và các chất độc dược; bị cáo nghiện ma túy nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo và cai nghiện ma túy.

Xét thái độ khai báo thành khẩn nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hinh sự 2015).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự: điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động Nokia 1200 màu đen đã qua sử dụng là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước Đối với đối tượng H là người nhờ P đi lấy ma túy và đối tượng V là người đưa ma túy cho P do không xác định được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hinh sự sơ thẩm theo luật định. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đoàn Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Quang P 18 (mười tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04 tháng 7 năm 2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động Nokia màu đen 1200 đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 10 năm 2017 giữa Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng và Công an quận Lê Chân).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


82
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về