Bản án 187/2018/DS-PT ngày 10/10/2018 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 187/2018/DS-PT NGÀY 10/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số158/2018/TLPT-DS ngày 20 tháng 08 năm 2018 về việc “V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2018/DS-ST ngày 11 tháng 07 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 232/2018/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Minh H, sinh năm 1982; cư trú tại ấp 2, xã L, huyện M, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Ph, sinh năm 1969; cư trú tại ấp 5, xã L, huyện M, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Người kháng cáo:Anh Nguyễn Hữu Ph là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2018 và biên bản hòa giải ngày 17/5/2018 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Vũ Minh H trình bày:

Ngày 16/01/2017 (dương lịch), anh Vũ Minh H và anh Nguyễn Hữu Ph có ký kết hợp đồng thuê xe tải K165 sản xuất năm 2016, biển số 69C-02585, giá thuê 800.000 đồng/01 ngày, tính từ ngày 17/01/2017 đến hết ngày 20/4/2018. Đến ngày 27/02/2018, anh Ph đơn phương chấm dứt hợp đồng, trả lại xe và toàn bộ giấy tờ cho anh H. Thời gian anh Ph thuê xe từ ngày 17/01/2017 đến hết ngày 20/02/2018 là 13 tháng 10 ngày nhưng anh Ph chỉ thanh toán tiền thuê xe 11.000.000 đồng (thanh toán 02 lần, lần sau vào khoảng tháng 4/2017). Nay anh H yêu cầu anh Ph thanh toán số tiền thuê xe còn lại là 309.000.000 đồng.

Bị đơn là anh Nguyễn Hữu Ph trình bày:

Tại biên bản hòa giải ngày 17/5/2018, anh Ph xác định ngày 16/01/2017 (dương lịch), anh Ph và anh H có ký kết hợp đồng thuê xe tải K165 sản xuất năm 2016, biển số 69C-02585, giá thỏa thuận 800.000 đồng/01 ngày, thời hạn thuê tính từ ngày 17/01/2017 đến hết ngày 20/4/2018. Đến ngày 27-02-2018 (dương lịch), anh Ph giao trả lại xe và toàn bộ giấy tờ cho anh H như anh H trình bày là đúng.

Quá trình thuê xe anh đã thanh toán cho anh H 11.000.000 đồng. Do tin tưởng trong quan hệ làm ăn nên khi giao xe và giấy tờ cho anh H không có lập thành văn bản, không có ai chứng kiến.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2018/DS-ST ngày 11 tháng 07 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M Quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Minh H về việc yêu cầu anh Nguyễn Hữu Ph thanh toán tiền thuê xe theo hợp đồng ngày 16/01/2017. Buộc anh Nguyễn Hữu Ph phải có nghĩa vụ trả tiền thuê xe cho anh Vũ Minh H số tiền 309.000.000 đồng (Ba trăm lẻ chín triệu đồng). Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 24/07/2018 anh Nguyễn Hữu Ph kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Anh chỉ thuê 11 chuyến xe, mỗi chuyến là 1.000.000 đồng, anh đã thanh toán xong, yêu cầu xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Minh H.

Tại phiên tòa,anh Nguyễn Hữu Ph giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu Ph và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Hữu Ph thấy rằng: Ngày 16/01/2017 anh Vũ Minh H và anh Nguyễn Hữu Ph có thỏa thuận ký kết hợp đồng thuê xe, hình thức thuê mỗi ngày 800.000 đồng, thời gian thuê từ ngày 16/01/2017 đến hết ngày 20/4/2018. Anh Ph thừa nhận có ký vào hợp đồng nêu trên, nên hợp đồng có giá trị để hai bên thực hiện. Ngày 27/02/2018, anh Ph giao trả lại xe và toàn bộ giấy tờ cho anh H, mặc dù các bên không có lập thành văn bản khi giao xe nhưng thời gian giao trả xe được hai bên thừa nhận. Như vậy, thời gian anh Ph thuê xe là 13 tháng 10 ngày x 800.000 đồng bằng 320.000.000 đồng, anh Ph đã thanh toán được 11.000.000 đồng, còn lại 309.000.000 đồng.Anh Ph cho rằng anh thuê xe theo chuyến và tổng cộng là 11 chuyến xe, mỗi chuyến giá 1.000.000 đồng nhưng anh Ph không có gì chứng minh. Do đó, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, buộc anh Ph thanh toán cho anh H số tiền 309.000.000 đồng là có căn cứ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu Ph và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu Ph và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2018/DS-ST ngày 11 tháng 07 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Minh H. Buộc anh Nguyễn Hữu Ph phải có nghĩa vụ trả tiền thuê xe cho anh Vũ Minh H số tiền 309.000.000 đồng (Ba trăm lẻ chín triệu đồng).

Đối với khoản tiền phải thanh toán. Kể từ ngày anh Vũ Minh H có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong, anh Nguyễn Hữu Ph phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Ph phải chịu án phí 15.450.000 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), chưa nộp.

Anh Vũ Minh H không phải chịu án phí dân sự. Ngày 04 tháng 4 năm 2018 đã dự nộp 7.725.000đồng tại biên lai số 0011889 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Cà Mau, được hoàn trả lại.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3.Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Hữu Ph phải chịu 300.000 đồng. Ngày 24/07/2018 anh Ph đã dự nộp 300.000 đồng theo lai số 0012115 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


102
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 187/2018/DS-PT ngày 10/10/2018 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Số hiệu:187/2018/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về