Bản án 188/2019/HNGĐ-ST ngày 23/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 188/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH, LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 23 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1983. Có mặt.

Cư trú: 399 ấp N xã M huyện C tỉnh An Giang.

ĐCLL: 233 tổ 10 ấp M xã N huyện C tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P – sinh năm 1981. Có mặt.

Cư trú: 399 ấp N xã M huyện C tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện bảng tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Kim H trình bày: Chị và anh P chung sống với nhau vào năm 2003 không có đăng ký kết hôn, hôn nhân là do quen biết trước. Chung sống đến năm 2019 thì do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng hay cự cải nhau nguyên nhân do chị đi làm anh P hay ghen vô cớ và xúc phạm danh dự chị nên chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 3/2019, anh P có tới năn nỉ nhưng chị không đồng ý nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với chồng là Nguyễn Văn P.

Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Tường V sinh ngày 11 tháng 4 năm 2004; Nguyễn Tấn K sinh ngày 05 tháng 7 năm 2007; Nguyễn Thị Thiên K1 sinh ngày 21 tháng 7 năm 2012. Hiện cháu Vi đang sống chung với chị. Còn cháu K, cháu K1 đang chung sống với anh P chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên V, K1 và đồng ý con tên K dể anh P nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Văn P trình bày: Anh và chị Nguyễn Kim H chung sống với nhau năm 2003, không có đăng ký kết hôn chung sống đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh có rượu nên vợ chồng có cự cải vợ bỏ đi anh có tới lui nhưng vợ không chịu gặp mặt nay vợ xin ly hôn do còn tình cảm yêu cầu Tòa án cho vợ chồng hàn gắn, không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Tường V sinh ngày 11 tháng 4 năm 2004; Nguyễn Tấn K sinh ngày 05 tháng 7 năm 2007; Nguyễn Thị Thiên K1 sinh ngày 21 tháng 7 năm 2012. Hiện con tên Khoa Kiều anh đang nuôi dưỡng. Còn Vi thì đang chung sống với vợ, nếu ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu K và K và cháu V cho vợ nuôi. Không ai cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Kim H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P, anh P có nơi cư trú tại ấp N xã M huyện C tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2].Về nội dung [2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh P chung sống với nhau vào năm 2003 nhưng không đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh chị chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân anh P không tin tưởng Chị H trong quan hệệ tình cảm vợ chồng hay ghen vô cớ nên anh chị hay cải nhau đến tháng 3 năm 2019 thì không còn chung sống với nhau, Chị H không tạo điều kiện để anh P hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Chị H yêu cầu ly hôn anh P không đồng ý vì còn thương vợ và yêu cầu cho vợ chồng hàn gắn nhưng anh P không đến gặp Chị H để hàn gắn tình cảm vợ chồng cho thấy anh P không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khả năng hàn gắn nhưng do anh chị không đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân gia đình nghĩ nên không công nhận Chị H và anh P là vợ chồng.

[2.2].Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị Tường V sinh ngày 11 tháng 4 năm 2004; Nguyễn Tấn K sinh ngày 05 tháng 7 năm 2007; Nguyễn Thị Thiên K1 sinh ngày 21 tháng 7 năm 2012. Hiện cháu Vi đang sống chung với Chị H. Còn cháu K, cháu K1 đang chung sống với anh P. Tại phiên tòa hôm nay Chị H yêu cầu được nuôi con tên V và đồng ý để cháu K cháu K1 cho anh P nuôi dưỡng. Do cháu Vi cháu K, cháu K1 trên 07 tuổi Tòa án có hỏi nguyện vọng của cháu Vi, cháu K1 là muốn được sinh sống với Chị H, nguyện vọng của cháu K là muốn được sinh sống với anh P. Xét thấy nguyện vọng cháu K1 mong muốn được sống với Chị H tuy nhiên Chị H và anh P thống nhất thỏa thuận anh P là người trực tiếp nuôi cháu K1 và cháu K mặc khác cháu K1 cháu K do anh P trực tiếp nuôi dưỡng từ lúc anh chị không còn chung sống với nhau cuộc sống đã ổn định các cháu vẫn phát triển bình thường và được đi học đầy đủ. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên giao cho Chị H được nuôi con tên Phan Nguyễn Thị Tường V sinh ngày 11 tháng 4 năm 2004 anh P được nuôi con tên Nguyễn Tấn K sinh ngày 05 tháng 7 năm 2007 và Nguyễn Thị Thiên K1 sinh ngày 21 tháng 7 năm 2012 hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Kim H, anh Nguyễn Văn P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh P, Chị H trong việc thăm nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của người thân thích của con cơ quan có thẩm quyền Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[2.3].Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

[2.4].Về nợ chung: Ghi nhận Chị H, anh P xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[2.5]Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Kim H và anh Nguyễn Văn P là vợ chồng.

Về quan hệệ con chung: Chị Nguyễn Kim H được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Tường V sinh ngày 11 tháng 4 năm 2004. Anh Nguyễn Văn P được nuôi hai con tên Nguyễn Thị Thiên K1 sinh ngày 21 tháng 7 năm 2012 và Nguyễn Tấn K sinh ngày 05 tháng 7 năm 2007. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Kim H, anh Nguyễn Văn P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh P, Chị H trong việc thăm nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của người thân thích của con cơ quan có thẩm quyền Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận Chị H, anh P xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0012963 ngày 26/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 188/2019/HNGĐ-ST ngày 23/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:188/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về