Bản án 190/2014/DSPT ngày 21/11/2014 về tranh chấp thừa kế theo di chúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 190/2014/DSPT NGÀY 21/11/2014 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO DI CHÚC

Ngày 21 tháng 11 năm 2014 tại trụ sở Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 37/2014/TLPT-DS ngày 03 tháng 6 năm 2014 về việc Tranh chấp thừa kế theo di chúc.

Do bản án sơ thẩm số 18/2014/DSST ngày 31/03/2014 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2561/2014/QĐXX-PT ngày 05 tháng 11 năm 2014 giữa các đương sự:

* Đồng Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Sứ, sinh năm 1955; bà Trịnh Thị Lan, sinh năm 1949; anh Trịnh Văn Dũng, sinh năm 1976; chị Trịnh Thị Hạnh, sinh năm 1977; chị Trịnh Thị Tuyết, sinh năm 1981; anh Trịnh Văn Sơn, sinh năm 1983. Bà Nguyễn Thị Sứ là người đại diện theo ủy quyền của chị Phú, Hạnh, Tuyết và anh Sơn, chị Lan.

Cùng địa chỉ: Thôn Cao Hạ, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị Sứ: Ông Lê Văn Thiệp - Luật sư Văn phòng luật sư Toàn Cầu - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội;

* Đồng Bị đơn: Bà Trịnh Thị Buông, sinh năm 1952; bà Trịnh Thị Hai, sinh năm 1955; bà Trịnh Thị Ba, sinh năm 1958.

Cùng địa chỉ: Thôn Cao Hạ, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn: Ông Hoàng Ngọc Biên; bà Lưu Thùy Linh - Luật sư Văn phòng luật sư Cát Tường - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội;

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hoàng Thị Ngọ, sinh năm 1942; anh Trịnh Văn Lực; chị Trịnh Thị Nguyệt; anh Trịnh Văn Thanh; anh Trịnh Văn Thắng, chị Trịnh Thị Huyên. Anh Lực, chị Nguyệt, anh Thanh, anh Thắng, chị Huyên ủy quyền cho bà Ngọ.

Đều cùng địa chỉ: Xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Chị Đặng Thị Phú, sinh năm 1977 (con dâu của bà Sứ là vợ anh Trịnh Văn Dũng) và các con của anh Dũng, chị Phú.

Đều cùng địa chỉ: Thôn Cao Hạ, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Ông Nguyễn Ích Đạo, sinh năm 1948. Địa chỉ: xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Anh Trịnh Văn Minh, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn Cao Hạ, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo bà Sứ là vợ ông Trịnh Văn Cảnh khai và các con bà Sứ khai: Bố mẹ chồng bà là cụ Trịnh Văn Đán (chết năm 1977) và Đặng Thị Xuân (chết năm 1981) Cụ Đán, cụ Xuân có 04 người con là: Trịnh Văn Thả; Trịnh Văn Đắc; Trịnh Thị Lan; Trịnh Văn Cảnh. Hiện nay cả 3 người con trai của các cụ đã chết, ông Thả chết năm 1960, ông Đắc chết năm 1988, ông Cảnh chết năm 1997 chỉ còn bà Trịnh Thị Lan còn sống. Tài sản của các cụ có diện tích đất 280m2 trên đất có ngôi nhà cổ 5 gian, 01 ngôi nhà cấp 4, 03 gian bếp. Năm 1976 cụ Trịnh Văn Đán có viết di chúc giao cho Vợ chồng bà toàn bộ 280m2 đất và ngôi nhà cổ 5 gian, 03 gian bếp. Năm 1981, cụ Đặng Thị Xuân cũng viết di chúc giao toàn bộ nhà đất cho vợ chồng bà, các cụ không cho vợ chồng ông Trịnh Văn Thả và Đặng Thị Chỉ đất đai. Năm 1982 vợ chồng bà đã phá dỡ toàn bộ ngôi nhà cổ 05 gian để xây dựng thành ngôi nhà hai tầng như hiện nay. Đến năm 2005 căn cứ di chúc của bố mẹ chồng, bà yêu cầu bà Đặng Thị Chỉ trả lại đất cho gia đình bà, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức đã xét xử sơ thẩm, sau đó bà Đặng Thị Chỉ kháng cáo. Nhưng bà đã rút đơn khởi kiện tại Tòa án cấp phúc thẩm, vì lý do bà Đặng Thị Chỉ vẫn còn sống, nên di chúc chưa có hiệu lực. Nay bà Đặng Thị Chỉ đã chết, theo di chúc của cụ Xuân để lại, bà yêu cầu các con của bà Chỉ giao cho gia đình bà diện tích nhà đất của bố mẹ chồng để lại.

Bà Trịnh Thị Lan khai: Bà là con gái của cụ Trịnh Văn Đán và Đặng Thị Xuân. Hiện nay Bố mẹ và các anh em trai của bà đều đã chết. Về nguồn gốc tài sản của gia đình bà công nhận như lời khai của bà Sứ và chị em bà Buông. Khi bố mẹ bà viết di chúc, bà không được chứng kiến trực tiếp nên bà không biết, bà cũng công nhận bố mẹ bà không biết chữ. Việc các cụ viết di chúc là do các cụ nhờ người khác viết hộ, còn bà không biết các cụ nhờ ai viết. Do bà Chỉ không có con trai nên các cụ muốn để lại đất đai cho gia đình ông Trịnh Văn Cảnh quản lý làm nơi thờ cúng tổ tiên vì ông Cảnh có con trai. Bà có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết theo di chúc của bố mẹ. Nếu trong trường hợp bà được hưởng di sản của Bố mẹ thì bà để lại cho các cháu trai là con bà Sứ và ông Cảnh làm nơi thờ cúng tổ tiên.

Các bà Trịnh Thị Buông; Trịnh Thị Hai; Trịnh Thị Ba, con của ông Trịnh Văn Thả bà Đặng Thị Chi khai: Các bà công nhận về quan hệ huyết thống như bà Sứ, bà Lan trình bày. Về nguồn gốc đất của gia đình các bà là của ông cha để lại, Bố mẹ các bà đã được ông bà nội chia cho khoảng 109m2 đất từ xưa, hiện nay còn 94m2. Các bà không đồng ý với yêu cầu của bà Sứ. Vì diện tích đất trên có ngôi nhà cấp 4 gồm 04 gian là của bố mẹ các bà là của ông Thả, bà Chỉ. Bố mẹ các bà đã xây dựng nhà ở riêng từ năm 1958. Năm 1986 bà Chỉ đó đăng ký kê khai với địa phương sử dụng 109m2 đất, ông Trịnh văn Cảnh cũng kê khai 172m2 đất. Năm 1993, bà Đặng Thị Chỉ có cho vợ chồng ông Đạo (con rể) xây một gian nhà cấp 4 liền kề bên cạnh ngôi nhà cấp 4 của bà Chỉ để làm nơi bán hàng. Năm 1996, mẹ các bà đã làm hợp đồng tặng cho nhà ở, cho mỗi bà một phần nhà đất. Hợp đồng tặng cho đã được UBND xã Đức Giang và UBND huyện Hoài Đức chứng nhận hợp đồng.

Bà Hoàng Thị Ngọ vợ ông Trịnh Văn Đắc và các con là anh Trịnh Văn Lực; chị Trịnh Thị Nguyệt; anh Trịnh Văn Thanh; chị Trịnh Thị Huyên, anh Trịnh Văn Thắng là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai: Bà Ngọ và các con công nhận lời khai của bà Sứ và lời khai của chị Buông, chị Hai, chị Ba về quan hệ huyết thống và nguồn gốc di sản là đúng. Gia đình bà Ngọ và các con đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nếu gia đình bà được hưởng di sản của bố mẹ thì gia đình bà xin nhận, sau đó gia đình bà giao lại cho ai là quyền của gia đình bà để làm nơi thờ cúng tổ tiên.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 18/2014/DSST từ ngày 28 đến 31/3/2014 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Áp dụng các Điều 631, 632, 633, 634, 635, 636, 638, 639, 648, 649, 650, 652, 653, 657 Bộ luật dân sự; Điều 136 Luật đất đai năm 2003. Thông tư 81-TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các Điều 25; 131 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị định số70/CP ngày 12/6/1997 về án phí lệ phí Tòa án của Chính phủ. Xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Sứ đối với các bị đơn bà Trịnh Thị Buông, Trịnh Thị Hai, Trịnh Thi Ba.

- Huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thị Chỉ với các con gái là bà Trịnh Thị Buông, Trịnh Thị Hai, Trịnh Thị Ba năm 1996.

- Xác nhận một phần di chúc của cụ Đặng Thị Xuân lập ngày 05/10/1981 có hiệu lực pháp luật. Giao cho gia đình bà Nguyễn Thị Sứ được hưởng thừa kế phần di sản của cụ Đặng Thị Xuân tại thôn Cao Hạ xã Đức Giang huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Giao cho gia đình bà Sứ sở hữu sử dụng ngôi nhà 2 tầng (sửa chữa năm 1982), và 01 ngôi nhà bếp cấp 4 phía bên trái giáp ngôi nhà 2 tầng; và giao cho gia đình bà Sứ quản lý 98m2 đất thuộc phần của cụ Xuân, trị giá là 1.620.000.000 đồng.

Tạm giao cho gia đình bà Sứ quản lý 1/2 di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn Đán gồm ngôi nhà cấp 4 không có mái xây dựng năm 1958 có diện tích 28,18m2 trị giá 8.000.000 đồng, 01 bể nước trị giá 500.000 đồng, 01 bức tường giáp ngõ đi phía nam giá 1.000.000 đồng, 01 bức tường dài 9,25m cao 1,3m trị giá 1.200.000đồng, 01 giếng khoan trị giá 1.500.000đồng trên diện tích đất 130m2 chờ hướng dẫn của pháp luật.

- Giao cho bà Buông, bà Hai, bà Ba: ngôi nhà cấp 4 diện tích 18,2m2, 01 gian bếp cấp 4 diện tích 6,45m2 do gia đình bà Buông xây dựng năm 1993 nằm trên diện tích đất 32m2 có trị giá quyền sử dụng đất là 640.000.000 đồng.

Đất giao cho gia đình các đương sự có sơ đồ kèm theo. Hai bên tự mở lối đi trên riêng. Hai bên có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

- Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bà Sứ thanh toán cho 03 chị em bà Buông số tiền công sức là 100.000.000đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/04/2014 các nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 03/04/2014 các bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa Phúc thẩm các nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Sứ, bà Trịnh Thị Lan, anh Trịnh Văn Dũng, chị Trịnh Thị Hạnh, chị Trịnh Thị Tuyết, anh Trịnh Văn Sơn và các bị đơn bà Trịnh Thị Buông, Trịnh Thị Hai, Trịnh Thị Ba cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị Ngọ, anh Trịnh Văn Lực, chị Trịnh Thị Nguyệt, anh Trịnh Văn Thanh, anh Trịnh Văn Thắng, chị Trịnh Thị Huyên (ủy quyền cho bà Ngọ).

Chị Đặng Thị Phú (ủy quyền cho anh Trịnh Văn Dũng), ông Nguyễn Ích Đạo, anh Trịnh Văn Minh thỏa thuận như sau: Di sản của cụ Đán, cụ Xuân để lại là hai ngôi nhà: bao gồm: 01 nhà cổ 5 gian mà ông Cảnh bà Sứ sửa chữa thành nhà hai tầng hiện nay, 01 nhà bếp cấp 4, 01 nhà ở cấp 4 xây dựng năm 1958, mái đã hỏng, còn tường gạch bao quanh, sân xi măng và tường bao quanh thửa đất có diện tích 260m2. Tổng trị giá là 4.520.000.000 đồng (bốn tỷ, năm trăm hai mươi triệu đồng).

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ chối nhận phần di sản được hưởng để giao cho các nguyên đơn các bị đơn cùng hưởng.

Phần đất của gia đình bà Sứ đang quản lý là 166m2 trị giá 2.490.000.000 đồng trên đất có 01 nhà hai tầng, nhà bếp cấp 4, nhà vệ sinh, sân xi măng và bức tường gạch bao quanh phía Nam giáp ngõ xóm, nay gia đình bà Sứ được sở hữu tài sản trên đất và quyền sử dụng 166m2 đất.

Phần đất của gia đình bà Chỉ mà các bị đơn đang quản lý là 94m2 trị giá 1.880.000.000 đồng trên đất có nhà cấp 4 không có mái và công trình phụ, Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho các nguyên đơn 62m2, chia cho các bị đơn sử dụng 32m2 một gian bếp cấp 4 diện tích 6,45m2. Nay các nguyên đơn, các bị đơn thỏa thuận: Nguyên đơn nhận 45m2 đất và tài sản trên đất, còn các bị đơn nhận thêm 17m2 đất. Tổng cộng các bị đơn được nhận 49m2 và tài sản trên đất. Các nguyên đơn không phải hỗ trợ cho các bị đơn 100.000.000 đồng theo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các luật sư tham gia tố tụng đều đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc giải quyết vụ án.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa Phúc thẩm các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

Xác định di sản của cụ Đán, cụ Xuân để lại bao gồm: 01 nhà cổ 5 gian mà ông Cảnh bà Sứ sửa chữa lại thành nhà hai tầng hiện nay, 01 nhà bếp cấp 4, 01 nhà ở cấp 4 xây dựng năm 1958 mái đã hỏng, còn tường gạch bao quanh, sân xi măng và tường gạch bao quanh thửa đất 260m2. Tổng giá trị di sản là 4.520.000.000 đồng.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Hoàng Thị Ngọ, anh Trịnh Văn Lực, chị Trần Thị Nguyệt, anh Trịnh Văn Thanh, anh Trịnh Văn Thắng, chị Trịnh Thị Huyên, ông Nguyễn Ích Đạo, anh Trịnh Văn Minh và chị Đặng Thị Phú cùng các con của chị Phú, anh Trịnh Văn Dũng tự nguyện từ chối nhận di sản được hưởng để giao phần di sản được hưởng cho các nguyên đơn, các bị đơn cùng hưởng.

Phần đất của gia đình bà Sứ đang quản lý là 166m2 trị giá 2.490.000.000 đồng, trên đất có 01 nhà hai tầng, nhà bếp cấp 4, nhà vệ sinh, sân xi măng, bức tường gạch phía Nam giáp ngõ xóm.

Phần đất của gia đình bà Chỉ đang quản lý (nay là các bị đơn) là 94m2, trị giá 1.880.000.000 đồng, trên đất có nhà cấp 4 không có mái và công trình phụ. Tòa án cấp Sơ thẩm chia cho các nguyên đơn sử dụng 62m2, chia cho các bị đơn sử dụng 32m2, nhưng nay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã từ chối nhận di sản để giao phần di sản được hưởng cho các nguyên đơn và các bị đơn cùng hưởng nên các bị đơn được nhận thêm 17m2 đất. Tổng cộng các bị đơn được hưởng 49m2 đất và nhà trên đất bao gồm nhà cấp 4 diện tích 18,2m2 và nhà bếp cấp 4 diện tích 6,42m2, còn lại 45m2 đất các nguyên đơn được hưởng.

Các bị đơn còn thỏa thuận với các nguyên đơn là: Các nguyên đơn không phải hỗ trợ các bị đơn số tiền 100.000.000 đồng theo bản án Sơ thẩm.

Hội đồng xét xử nhận thấy thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn để sửa bản án Sơ thẩm.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ Điều 270 Bộ luật tố tụng dân sự:

QUYẾT ĐỊNH

Công nhận sự thỏa thuận giữa các nguyên đơn bà Nguyễn Thị Sứ, bà Trịnh Thị Lan, anh Trịnh Văn Dũng, chị Trịnh Thị Hạnh, chị Trịnh Thị Tuyết, anh Trịnh Văn Sơn với các bị đơn bà Trịnh Thị Buông, bà Trịnh Thị Hai, bà Trịnh Thị Ba. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2014/DSST từ ngày 28 đến  31/3/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về tranh chấp thừa kế.

Áp dụng các Điều 631, 632, 633, 634, 635, 642, 649, 650, 652 Bộ luật dân sự; Điều 136 Luật Đất đai năm 2003.

Căn cứ các Điều 25; Điều 131; Điều 132 Bộ luật tố tụng dân sự:

Xác nhận di sản của cụ Trịnh Văn Đán cụ Đặng Thị Xuân để lại bao gồm thửa đất có diện tích 260m2 tại thôn Cao Hạ, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội, trên đất có nhà cổ 5 gian mà vợ chồng ông Cảnh bà Sứ đã sửa chữa thành nhà hai tầng hiện nay, một nhà bếp cấp 4, một nhà ở cấp 4 (xây dựng năm 1958) mái bị hỏng, sân xi măng và tường gạch bao quanh trị giá 4.520.000.000 đồng.

Phần di sản đất 94m2 mà các bị đơn đang quản lý sử dụng, trên đất có nhà cấp 4 diện tích 18,2m2 không có mái, một gian bếp cấp 4 diện tích 6,45m2 trị giá là 1.880.000.000 đồng. Trong phần di sản này, các nguyên đơn được nhận 45m2 đất.

Các bị đơn bà Trịnh Thị Buông, bà Trịnh Thị Hai, bà Trịnh Thị Ba được nhận 49m2 đất và tài sản trên đất bao gồm nhà cấp 4, một gian nhà bếp và công trình phụ khác. Cụ thể như sau: Tiếp theo phần diện tích 32m2 trên có nhà cấp 4 diện tích 18m2, 1 gian bếp cấp 4 diện tích 6,45m2 ký hiệu (ABCG) là 17m2 ký hiệu (CDEF) có hai chiều là FC và chiều ED mỗi chiều dài 6,82 mét, hai chiều là CD và chiều EF mỗi chiều dài 2,49 mét. Theo bản vẽ đã được đại diện các bên đương sự thỏa thuận tại phiên tòa phúc thẩm. Bản án phúc thẩm chỉ vẽ lại trên cơ sở thỏa thuận của các đương sự, ghi ký hiệu, kích thước, số liệu tương ứng để làm rõ trong bản án.

Phần diện tích có liên quan đến thỏa thuận nêu trên các bên đương sự không đề cập đến việc di chuyển tài sản, cây cối hoa màu, nên các đương sự tự di chuyển, được hưởng tài sản trên diện tích đó.

Các nguyên đơn bà Nguyễn Thị Sứ, bà Trịnh Thị Lan, anh Trịnh Văn Dũng, chị Trịnh Thị Hạnh, chị Trịnh Thị Tuyết, anh Trịnh Văn Sơn còn được nhận phần di sản mà gia đình bà Sứ đang quản lý, bao gồm: một nhà hai tầng, một nhà bếp cấp 4, nhà vệ sinh, sân xi măng và tường gạch bao quanh phía Nam giáp ngõ xóm trên diện tích đất 166m2, trị giá 2.490.000.000 đồng.

Các nguyên đơn không phải hỗ trợ tiền cho các bị đơn.

Về án phí: Căn cứ các Điều 7, 8, 11 và 12 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Sứ cùng các con của bà Sứ và bà Trịnh Thị Lan phải chịu 28.620.000 đồng.

Các bị đơn bà Buông, bà Hai, bà Ba cùng phải chịu 20.800.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà các đương sự nộp tại các biên lai số 0005644, số 0005645, số 0005646, số 0005647, số 0005648, số 0005649, ngày 01/6/2009 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội được chuyển thành tiền án phí sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà các đương sự đã nộp tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội cho bà Nguyễn Thị Sứ 200.000 đồng tại các Biên lai số AP/2010/0009622 ngày 18/4/2014, bà Trịnh Thị Buông, Trinh Thị Hai, Trịnh Thị Ba mỗi người 200.000 đồng tại Biên lai số AP/2010/000/9550 ngày 14/4/2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


842
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 190/2014/DSPT ngày 21/11/2014 về tranh chấp thừa kế theo di chúc

    Số hiệu:190/2014/DSPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:21/11/2014
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về