Bản án 191/2018/HNGĐ-ST ngày 13/11/2018 về tranh chấp ly hôn và con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 191/2018/HNGĐ-ST NGÀY 13/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ CON CHUNG

Trong ngày 13/11/2018 tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh ĐồngNai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 731/2018/TLST – HNGĐ ngày 28/9/2018 về “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2018/QĐXXST– HNGĐ ngày 25/10/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim Đ, sinh năm 1993.

Địa chỉ: A, tổ B, khu CX, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung C, sinh năm 1992.

Địa chỉ: A, tổ B, khu CX, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. Chị Đ, anh C có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn, chị Bùi Thị Kim Đ trình bày:

Chị và anh Nguyễn Trung C tự nguyện kết hôn với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn LT, huyện LT. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh C có tính gia trưởng, thường xuyên bạo hành, chửi tục, đánh đập, làm nhục chị do ghen tuông vô cớ. Từ khi lấy nhau đến nay, một mình chị lo kinh tế gia đình, anh C không có trách nhiệm với vợ con. Chị đã cho chồng nhiều cơ hội nhưng anh C không thay đổi. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 06/9/2011; Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày 20/11/2012; Nguyễn Hoàng Lê V1, sinh ngày 20/11/2012. Ly hôn, chị xin nuôi cháu V, V1, giao cháu T cho anh C nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có. Về nợ chung: không có.

* Bị đơn, anh Nguyễn Trung C trình bày:

Anh và chị Đ kết hôn với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 9/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh ghen tuông nên đánh vợ và từ khi kết hôn đến tháng 9/2018 anh không đi làm, không lo cho vợ con. Anh biết hành động của mình là sai nhưng xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 06/9/2011; Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày 20/11/2012; Nguyễn Hoàng Lê V1, sinh ngày 20/11/2012.

Nếu Tòa án cho ly hôn, anh xin nuôi cháu T, giao 2 cháu V, V1 cho chị Đ nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành có ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng, về việc xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ vụ án và thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử đều được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đ và anh C được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật bảo vệ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Kim Đ.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 06/9/2011; Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày 20/11/2012; Nguyễn Hoàng Lê V1, sinh ngày 20/11/2012. Đề nghị giao cháu T cho anh C; giao cháu V, V1 cho chị Đ nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Nguyễn Trung C hiện đang cư trú tại thị trấn LT, huyện LT nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật: Chị Bùi Thị Kim Đ khởi kiện xin được ly hôn với anh Nguyễn Trung C và giải quyết vấn đề con chung. Tòa án nhân dân huyện Long Thành căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ là “Tranh chấp ly hôn và con chung”.

- Nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Đ và bị đơn anh Nguyễn Trung C có đơn xin vắng mặt trong các phiên tòa xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Nội dụng vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim Đ và anh Nguyễn Trung C tự nguyện kết hôn với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. Hôn nhân giữa chị Đ và anh C là hôn nhân hợp pháp nên khi có yêu cầu ly hôn, Tòa án áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Theo chị Đ thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh C thường xuyên đánh đập chị, ghen tuông vô cớ và không có trách nhiệm đối với gia đình, vợ con. Chị đã khuyên bảo, cho anh C cơ hội nhưng anh C không thay đổi.

Còn anh C cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn do anh đánh chị Đ, ghen tuông và từ khi lấy nhau đến tháng 9/2018 anh không đi làm, không có thu nhập để lo cho gia đình.

Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh C là có thật, điều này đã được chị Đ và anh C thừa nhận. Mặc dù xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh C mong muốn được hàn gắn đoàn tụ nhưng lại vắng mặt trong các buổi hòa giải và phiên tòa xét xử. Điều đó chứng tỏ anh C cũng không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình nữa, nếu có tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc. Do đó, chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đ, cho chị Bùi Thị Kim Đ được ly hôn với anh Nguyễn Trung C là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 06/9/2011; Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày 20/11/2012; Nguyễn Hoàng Lê V1, sinh ngày 20/11/2012.

Khi ly hôn, chị Đ và anh C đều thống nhất giao cháu T cho anh C; giao cháu V, V1 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thống nhất người trực tiếp nuôi con của anh C, chị Đ là hoàn toàn tự nguyện và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Tài nên ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí HNGĐ- ST: chị Đ phải nộp 300.000đ án phí ly hôn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 203, 220; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 264, 266 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Kim Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Kim Đ được ly hôn với anh Nguyễn Trung C.

Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 06/9/2011; Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày 20/11/2012; Nguyễn Hoàng Lê V1, sinh ngày 20/11/2012.

Giao cháu T cho anh C; giao cháu V, V1 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Đ, anh C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi vị trí người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Về án phí HNGĐ – ST: chị Đ phải nộp 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên lai thu số 006791 ngày 26/9/2018.

Chị Đ, anh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 191/2018/HNGĐ-ST ngày 13/11/2018 về tranh chấp ly hôn và con chung

Số hiệu:191/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về