Bản án 19/2017/HC-PT ngày 27/12/2017 về khiếu kiện hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 19/2017/HC-PT NGÀY 27/12/2017 VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH KHÔNG CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ  DỤNG ĐẤT 

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 48/2016/HCPT ngày 13/12/2016 về: “Khởi kiện hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do bản án hành chính sơ thẩm 04/2016/HC-ST ngày 28/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2017/QĐ-PT ngày 24/12/2017 giữa:

1. Người khởi kiện: Ông Võ Văn T sinh năm 1962. Địa chỉ: xã Đ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: phường D, thị trấn D, tỉnh Bình Dương.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Đỗ Văn M, luật sư thuộc văn phòng luật sư B, đoàn luật sư tỉnh Bình Dương

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: ông Lê Mạnh D - Chủ tịch UBND huyện N.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: ông Võ Tấn Đ- Chánh văn phòng UBND huyện N.

3. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Võ Văn T.

(Ông T, ông M có mặt tại phiên tòa; ông D, ông Đ vắng mặt) .

- Theo bản án sơ thẩm:

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Người khởi kiện, ông Võ Văn T trình bày:

Trước năm 1960 mẹ ông là Nguyễn Thị T có khai phá được các diện tích đất thuộc thửa đất số 181, 183, 177, tờ bản đồ số 11 ( số cũ) xã Đ và diện tích đất 647 m2  thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện N. Sau đó, bà T cho anh của ông S phần  đất thuộc thửa số 181, 183, 177, tờ bản đồ số 11 (số cũ) xã Đ. Phần đất có diện tích 647 m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện N bà T để lại cho gia đình  sử dụng phần đất này để trồng dừa nước và khai thác lá, không trồng các loại cây khác và cũng không xây dựng công trình nào trên đất. Đến năm 2009 bà T qua đời, từ đó cho đến nay ông vẫn quản lý trồng dừa nước và cũng không xây dựng bất kỳ công trình nào trên diện tích đất này.

Vào ngày 25/6/2007, ông S chuyển nhượng cho ông Đ thửa đất số 181, 183, 177, tờ bản đồ số 11 ( số cũ) xã Đ. Sau đó, ông Đ chuyển nhượng cho ông M những thửa đất trên.

Tại thời điểm Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tiên, bà T là người trực tiếp đứng ra kê khai các diện tích đất mà gia đình sử dụng nhưng đăng ký kê khai bị thiếu sót diện tích 647 m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 18, xã Đ. Vì vậy, diện tích đất 647 m2 trên chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Từ năm 1993 đến năm 2007 ông không có bất kỳ giấy tờ tặng cho, thừa kế, mua bán chuyển nhượng nào liên quan đến diện tích đất trên và cũng không đăng ký kê khai ở cơ quan có thẩm quyền đối với diện tích đất 647m2 trên.

Ngày 10/2/2009, ông nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất trên (biên nhận hồ sơ số 1981/VPĐK.QSDĐ).Tuy nhiên, đến ngày 25/5/2009 UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSDĐ số AN 292362 công nhận phần đất này cho ông M (ngụ tại xã P, huyện N) . Sau khi ông M được cấp giấy chứng nhận QSDĐ , thì không biết ai đã chặt phá toàn bộ đám dừa do gia đình ông trồng và ông M đã san lấp mặt bằng. Sau đó, ông không biết ông Đ, ông M hay nhà nước đặt cống thoát nước trên diện tích đất này. Ông đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến UBND huyện N để yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông M. Ngày 15/3/2012 UBND huyện Nhơn Trạch đã ra quyết định số 697/QĐ. UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông M. Sau khi thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông M, UBND xã Đ lại trình UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSDĐ nói trên cho ông Đ để trừ tiền đặt đường cống thoát nước. Tuy nhiên, do ông liên tục khiếu nại nên cho đến nay UBND huyện N vẫn chưa cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất trên cho ông Đ.

Sau đó, ông đã nhiều lần yêu cầu UBND huyện N tiếp tục cấp giấy chứng nhận  QSDĐ  trên  cho  tôi.  Ngày  26/12/2014  UBND  huyện  N  ra  công  văn  số 5340/UBND-TD không đồng ý cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 186 cho ông. Phần diện tích đất 647 m2  trên giáp con đường đất nhà nước đắp lớn cách đây khoảng 10 năm. Hiện nay, trên phần đất này ông đang trồng chuối và vẫn chưa xây dựng bất kỳ công trình nào trên đất, không có cây lâu năm.

Ông yêu cầu Tòa án hủy công văn số 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 của UBND huyện N và cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất còn lại thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại ấp B, xã Đ cho ông vì ông là người trực tiếp sử dụng phần đất này vào mục đích sản xuất nông nghiệp.

* Người bị kiện UBND huyện N trình bày:

Ngày 24/05/2013, ông Võ Văn T có đơn kiến nghị UBND huyện Nxem xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông đối với thửa đất số 186, tờ bản đồ số 18 xã Đ.Theo hồ sơ địa chính, thửa đất số 186 tờ bản đồ số 18 xã Đ do ông M đăng ký, được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSDĐ số AN 292462 ngày 25/5/2009. Qua kiểm tra, thẩm tra lại việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa 186 cho ông M, UBND huyện nhận thấy nguồn gốc thửa đất trên là đất sông rạch do Nhà nước quản lý. Do đó ngày 13/5/2012 UBND huyện N đã ban hành quyết định số 679/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận cấp cho ông M. Hiện nay, thửa đất nêu trên đã được cải tạo, lắp đặt hệ thống thoát nước để tạo môi trường thông thoáng, thuận tiện trong việc thoát nước và đi lại của nhân dân trong khu vực. Qua xem xét đơn yêu cầu của ông T, ngày 26/12/2014 UBND huyện ban hành công văn số 5340/UBND - TD trả lời đơn ông Võ Văn T, qua đó đã giải thích cho ông T về nguồn gốc thửa đất số 186 tờ bản đồ số 18 xã Đ là đất sông rạch do Nhà nước quản lý và hiện trạng khu này cũng sử dụng làm mục đích công cộng, nên việc đề nghị xem xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa 186 tờ bản đồ số 18 xã Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đồng thời căn cứ vào khoản 7 Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Đất Đai quy định các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Vì vậy, việc đề nghị của ông T cấp giấy chứng nhận QSDĐ là không có cơ sở giải quyết. Do đó, UBND huyện không đồng ý với yêu cầu hủy công văn số 5340/UBND-TD   ngày 26/12/2014 của UBND huyện N và yêu cầu  cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất còn lại thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 18 tại ấp B, xã Đ của ông T.

- Bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2016/HC-ST ngày 28/9/2016 của TAND huyện Nhơn Trạch đã tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T về việc hủy quyết định hành chính số: 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 của UBND huyện N, yêu cầu UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 647 m2 thửa 186 tờ bản đồ số 18 xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 09/10/2016, ông Võ Văn T nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

- Tranh luận của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện tại phiên tòa:

Bản án sơ thẩm xác định văn bản số 5340/UBND-TD  ngày 26/12/2014 của UBND huyện N là quyết định hành chính là chưa phù hợp với quy định tại Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Ông T khởi kiện hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện N. Thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đ theo kết quả đo vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai hiện nay gồm 02 thửa: thửa 623 có diện tích 237,3m2 và thửa 186 mới diện tích 321m2. Do hiện nay phần diện tích đất 321m2  nằm trong quy hoạch đất giao thông nên ông T chỉ yêu cầu xem xét công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 237,3m2 được quy hoạch là đất ở nông thôn. Đất trên do ông Võ Văn T quản lý sử dụng ổn định từ lâu, được nhiều dân địa phương xác nhận, đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất.

Từ các lập luận trên, vị luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

- Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Trong trong quá trình giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Về đường lối giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xác định văn bản số 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 của UBND huyện N là quyết định hành chính là chưa chính xác, bởi lẽ đây chỉ là văn bản trả lời đối với yêu cầu đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tính. Do đó cần sửa quan hệ pháp luật là “khởi kiện hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Ông T không cung cấp được các tài liệu để chứng minh đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013. Do đó, UBND huyện N không cấp giấy chứng nhận là đúng pháp luật.

Từ các lý do trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, áp dụng khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy phần bản án sơ thẩm giải quyết đối với văn bản 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014, sửa quan hệ pháp luật, bác kháng cáo về nội dung yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo:

Ông Võ Văn T nộp đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn luật định nên kháng cáo của ông T được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới.

[2] Về người tham gia phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015, xét xử vắng mặt các đương sự này.

[3] Về nội dung vụ án:

Do cho rằng văn bản số 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 của UBND huyện N không chấp nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất 647m2 tại thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đ là vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của mình, ông Võ Văn T khởi kiện yêu cầu hủy văn bản nói trên và yêu cầu UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thửa 186 tờ bản đồ số 18 xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Qua trình bày của người khởi kiện tại phiên tòa, đối chiếu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Về quan hệ pháp luật, đối tượng khởi kiện:

Văn bản số 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 của UBND huyện N có nội dung không chấp nhận yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Võ Văn T với lý do thửa đất trên là đất công. Như vậy, văn bản trên  không phải là quyết định hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 do không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của ông T nên không phải là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính. Văn bản trên xác định hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của UBND huyện N. Cấp sơ thẩm nhận định đây là quyết định hành chính bị khởi kiện là chưa chính xác.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T xác định khởi kiện đối với hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện N. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tự xác định văn bản 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 là quyết định hành chính là chưa đúng với nội dung khởi kiện của ông vì ông còn yêu cầu UBND huyện N thực hiện nhiệm vụ công vụ là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa 186 tờ bản đồ 08 xã Đ, huyện N.

Từ các lý do trên, cần xác định lại quan hệ pháp luật trong vụ án là: “khiếu kiện hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do văn bản 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 không phải là đối tượng giải quyết trong vụ án nên hủy một phần bản án sơ thẩm có nội dung xem xét, giải quyết văn bản nêu trên.

[3.2] Tính hợp pháp của hành vi hành chính bị khởi kiện:

- Về thẩm quyền: Căn cứ Điều 105 của Luật đất đai năm 2013 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của ông Tính thuộc thẩm quyền của UBND huyện N.

- Về nội dung:

Trong quá trình chuẩn bị xét xử ở cấp phúc thẩm, ông T xác định lại yêu cầu khởi kiện, theo đó yêu cầu UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nằm trong quy hoạch đất ở nông thôn 237,3m2  (giới hạn bởi các điểm A,F,G,13,14,15,H,A theo trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 10671/2017 ngày 12/10/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - thửa mới 623 tờ bản đồ 18 xã Đ), đối với diện tích 321,2m2  nằm trong quy hoạch đường giao thông, ông có yêu cầu sau.

Ông Tính xác định tập chứng cứ được Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch thu thập (bút lục 140 đến 146) là toàn bộ hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất ông đã nộp  cho  Văn  phòng  đăng  ký  đất  đai  huyện  Nhơn  Trạch  theo  biên  nhận  số 1981/VPĐK-QSD ngày 10/02/2009 để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đại Phước.

Các tài liệu có trong bộ hồ sơ nêu trên gồm 06 tờ, cụ thể: 01 đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 02 tờ khai lệ phí trước bạ, 02 tờ khai thuế chuyển quyền sử dụng đất, 01 quyết định giải quyết việc dân sự có nội dung tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất năng lực hành vi dân sự, giao cho ông Võ Văn T làm người đại diện theo pháp luật cho bà T.

Như vậy, ông T đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đại Phước nhưng không cung cấp được một trong các giấy tờ theo quy định tại các Điều 100, Điều 101 Luât đất đai năm 2013. Hồ sơ đăng ký cũng không có tài liệu để chứng minh việc sử dụng ổn định, không có tranh chấp theo quy định tại Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Điều 8 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ tài nguyên và môi trường. Do đó, việc UBND huyện N không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đ cho ông là có căn cứ, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm nhận định ông T không đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở.

Từ các lý do trên, kháng cáo của ông T về nội dung này không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

[5] Về tranh luận của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởikiện:

Quan điểm của vị luật sư về việc xác định lại quan hệ pháp luật trong vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Phần tranh luận về đường lối giải quyết vụ án không được chấp nhận bởi lẽ: như đã phân tích ở trên hồ sơ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đ của ông T không có đầy đủ các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng quy định tại Điều 100, Điều 101 của Luật đất đai năm 2013, không chứng minh được việc sử dụng  đất  ổn  định, không có tranh chấp theo quy định Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014.

[6] Đối với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án cơ bản phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ khoản 2 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Võ Văn T, hủy một phần bản án sơ thẩm số 04/2016/HC-ST ngày 28/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về nội dung giải quyết đối với văn bản số 5340/UBND-TD ngày 26/12/2014 của UBND huyện Nhơn Trạch, sửa quan hệ pháp luật.

Bác kháng cáo của ông Võ Văn T về yêu cầu buộc UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất nằm trong quy hoạch đất ở nông thôn 237,3m2  thửa mới 623 tờ bản đồ 18 xã Đ (giới hạn bởi các điểm A,F,G,13,14,15,H,A theo trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 10671/2017 ngày 12/10/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai).

Áp dụng Điều 100, 101, 105 Luật đất đai năm 2013; Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn một số điều của Luật đất đai năm 2013, Điều 8 thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về hồ sơ địa chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T đối với yêu cầu khởi kiện hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 186 tờ bản đồ 18 xã Đ của UBND huyện N.

- Về án phí:

Ông T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 1546 ngày 30/11/2015 của Chi cục thi hành án huyện N Ông T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả ông T 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 1555 ngày 10/10/2016 của Chi cục thi hành án huyện N.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


116
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2017/HC-PT ngày 27/12/2017 về khiếu kiện hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Số hiệu:19/2017/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Nai
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:27/12/2017
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về