Bản án 19/2018/DSPT ngày 23/01/2018 về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 19/2018/DSPT NGÀY 23/01/2018 VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Trong ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2017/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2017/DSST ngày 12/09/2017 của Toà án nhân dân quận CG , thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2018/QĐPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị A, sinh năm 1974.

Đa chỉ: Số 8 ngách 26, ngõ 219, tổ 28 phường VH , quận HM, thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Bệnh viện B.

Đa chỉ: số 9 phố TB, phường MD, quận CG , thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của Bệnh viện B: Ông Trần Văn B1 - Giám đốc Bệnh viện.

Người đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Bệnh viện B:

- Ông Sái Văn B2 - Phó Giám đốc Bệnh viện.

- Ông Bùi Huy B3 - Giám đốc Trung tâm huyết học.

- Ông Nguyễn Thanh B4 - Phó Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp.

- Ông Vũ Ngọc B5 - Phó Trưởng phòng Chính trị. Đều công tác tại: Bệnh viện B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Quang C, sinh năm 1985.

Đa chỉ: Số 10 AQ17 ngõ 134 phố NAT, phường TM quận HM, thành phố Hà Nội.

* Người làm chứng: Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1945.

Đa chỉ: xóm Đ, khu dân cư CN, phường CH, thị xã CL, tỉnh Hải Dương.

Anh Đỗ Văn E, sinh năm 1970.

Đa chỉ: Thôn Đ, xã PS, huyện HH, tỉnh Thái Bình.

* Người kháng cáo: Bà Ngô Thị A, sinh năm 1974.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chồng bà Ngô Thị A là ông Đỗ Quang A1 , sinh năm 1960 - là cán bộ đã nghỉ hưu, trước đây công tác tại Công an phường QL, quận HBT, thành phố Hà Nội. Ông A1 có 01 con riêng tên là Đỗ Quang C, sinh năm 1985 bà A và A1 đăng ký kết hôn ngày 15/10/2010, không có con chung.

Sáng ngày 04/9/2012, ông A1 bị sốt và có vào Bệnh viện B khám tại khoa Lao phổi và Da liễu. Sau đó, Ông A1có thông báo cho bà A vào viện chăm sóc ông. Trong thời gian Ông A1nằm viện, ngoài bà Ngô Thị A chăm sóc, còn có ông Đỗ Văn D là anh trai Ông A1 chăm sóc từ ngày 20/9/2012 đến ngày 11/10/2012, anh Đỗ Quang C là con riêng của Ông A1 có qua lại chăm bố. Đến ngày 05/9/2012 Ông A1 được chuyển xuống khoa Nội 4 để điều trị do sốt cao. Đến ngày 20/9/2012 Ông A1được chuyển lên khoa Huyết học truyền máu.

Theo bà A trình bày: Bệnh viện đã tự ý chuyển Ông A1 lên khoa Huyết học truyền máu vì lúc đó bà A đi về nhà đóng tiền điện, thể trạng của Ông A1 lúc đó là tốt, các kết quả xét nghiệm của Ông A1 mà bà A biết đều bình thường.

Tại khoa Huyết học truyền máu, Bệnh viện đã tự chọc dịch tủy và sinh tiết ông A103 lần vì nghi ngờ là ung thư và trong Bệnh án của Bệnh viện B cũng ghi như vậy. Sau đó, Bệnh viện tự truyền hóa chất 03 lần cho với Ông A1từ ngày 21/9/2012 đến ngày 10/10/2012 thì thể trạng của Ông A1bất thường, bị xơ gan cổ trướng, bụng to, miệng méo, cơ thể biến dạng. Do thể trạng của Ông A1xấu, truyền thuốc không vào nên khoảng 17 giờ ngày 11/10/2012 Bệnh viện chuyển Ông A1xuống khoa cấp cứu. Sau khi cấp cứu nhưng không được, Bệnh viện có bảo vớibà A và đến khoảng 23 giờ ngày 11/10/2012 thì Bác sỹ điều trị ở khoa cấp cứu có gọi xe cấp cứu chobà A đểbà A đi cùng xe đưa Ông A1về quê ở khu Đ, PS, thị trấn HN, huyện HH, tỉnh Thái Bình, không làm thủ tục ra viện. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/10/2012 thì bà A đưa Ông A1về đến quê. Ông A1 ở quê đến khoảng 03 giờ sáng ngày 14/10/2012 thì mất.bà A và gia đình an táng cho Ông A1 tại quê.

Năm 2013, 2014 bà A viết đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến Bệnh viện B, Bộ Công an, Bộ Y tế, Ủy ban các vấn đề về xã hội của Quốc hội và nhiều cơ quan khác đề nghị xem xét việc Bệnh viện B khám, chữa bệnh sai quy trình dẫn đến làm chồng bà là ông Đỗ Quang A1 tử vong. Đến ngày 06/6/2014 bà A nhận được thông báo số 254 của Thanh tra Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật - Bộ Công an thông báo trả lời khiếu nại, tố cáo củabà A. Không đồng ý với thông báo trả lời này bà A tiếp tục gửi đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận CG .

Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2017, ngày 04/4/2017, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 03/5/2017,bà A yêu cầu Bệnh viện B phải bồi thường 512.300.000 đồng do đã gây ra cái chết của chồng bà A là ông Đỗ Quang A1 . Cụ thể: Tiền mua thêm thuốc ngoài: 5.000.000 đồng. Tiền xét nghiệm HIV: 100.000 đồng. Tiền thử đường huyết: 200.000 đồng. Tiền thuê xe bệnh viện: 2.000.000 đồng. Tiền viện phí lúc ra, vào viện: 5.000.000 đồng. Số tiền 500.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và tính mạng do Ông A1 mất.

Lý do bà A khởi kiện yêu cầu Bệnh viện B phải bồi thường vì: bà A là vợ Ông A1 nên mới có đủ tư cách ký vào bệnh án điều trị của ông A1. Nếu bà A không có mặt thì phải có giấy ủy quyền được sự đồng ý của bà A. Từ chỗ sai thủ tục hành chính dẫn đến trong phiếu xét nghiệm sinh hóa máu kết quả có ghi: máu nhiễm mỡ không có tế bào K di căn. Nghi ngờ ung thư mà vẫn chỉ định truyền hóa chất 03 lần.

+ Phiếu thông báo kết quả xét nghiệm sinh hóa máu, phần trả lời ghi: “Không có tế bào K di căn, nghi ngờ ung thư rồi chuyền hòa chất”.

+ Đưa giấy cam kết chuyền hóa chất cho ông Đỗ Văn D ký mà không đưa chobà A và Ông A1xem, giấy cam kết phải viết theo mẫu của Bộ Y tế chứ không phải viết trực tiếp vào trong bệnh án. Trong trường hợp bà A vắng mặt phải có sự ủy quyền của bà thì ông Dmới được ký vào bản cam kết.

+ Khi chuyển xuống khoa cấp cứu bác sĩ gọibà A vào bảo tình hình diễn biến xấu lắm nếu không đưa về thì không qua được đêm nay bà A đưa Ông A1 về để mai táng tại quê Thái Bình đêm ngày 11/10/2012 không làm thủ tục ra viện. Đối với bác sĩ khoa cấp cứu (bà không nhớ tên) phải chứng minh việc Ông A1bị sốc thuốc tại khoa cấp cứu ngày 11/10/2012.

Bệnh viện 19-8 Bộ Công an trình bày: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 04/9/2012, Bệnh viện B có tiếp nhận ông Đỗ Quang A1 vào khoa khám bệnh sau đó chuyển vào khoa Nội 4 từ ngày 04/9/2012 cho đến ngày 05/9/2012. Tiếp đó từ ngày 05/9/2012 đến ngày 19/9/2012 thì điều trị tại khoa Nội 5. Từ ngày 19/9/2012 đến ngày 11/10/2012 thì điều trị tại Trung tâm Huyết học. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/10/2012 tình hình bệnh nhân diễn biến nặng nên được chuyển xuống khoa Hồi sức cấp cứu và được hồi sức tích cực, đến 19 giờ cùng ngày bệnh nhân diễn biến nặng tiên lượng tử vong, bệnh viện đã giải thích cho người nhà bệnh nhân. Đến 21 giờ ngày 11/10/2012 gia đình bệnh nhân, bà Ngô Thị A đã ký trong bệnh án xin cho bệnh nhân về nhà. Sau đó người nhà đưa Ông A1về quê bằng xe cứu thương của Bệnh viện, còn tiền xe gia đình tự trả hay không thì Bệnh viện không nắm được.

Thời điểm ông Đỗ Quang A1 vào khám và điều trị, Ông A1 là Công an hưu (nguyên là công an công tác tại Công an phường QL, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Đối tượng tiêu chuẩn khám: Bảo hiểm Công an hưu, được Nhà nước chi trả 95% và gia đình chi trả 5%. Cụ thể:

Phần khám, điều trị từ ngày 04/9/2012 đến ngày 20/9/2012 là: 5.842.586 đồng, bảo hiểm đã chi trả 5.407.957 đồng, còn lại vợ Ông A1là bà Ngô Thị A nộp 434.629 đồng.

Phần khám, điều trị từ ngày 20/9/2012 đến ngày 12/10/2012 là 42.836.081 đồng, bảo hiểm đã chi trả 39.459.277 đồng, còn lại vợ Ông A1là bà Ngô Thị A nộp 3.376.804 đồng.

Việc chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân Đỗ Quang A1, Bệnh viện B đã thực hiện đúng quy trình chuyên môn, chẩn đoán và điều trị đúng bệnh. Phần khám điều trị bệnh án của ông Đỗ Quang A1 thể hiện: Ông A1vào viện ngày 04/9/2012 đến ngày 20/9/2012 chẩn đoán khám theo dõi Lơ xơ mi cấp (Ung thư máu) và điều trị truyền máu, truyền hóa chất, kháng sinh. Đến ngày 12/10/2012 do diễn biến nặng nên gia đình xin về có cam kết xin về của bà Ngô Thị A.

Đến ngày 14/10/2012 thì Ông A1 mất tại quê, gia đình tự lo việc hậu sự và an táng cho ông A1. Trong thời gian Ông A1 điều trị tại Bệnh viện 19-8 thì có anh trai của Ông A1là ông Đỗ Văn D, vợ Ông A1 là bà Ngô Thị A và con trai của Ông A1là Đỗ Quang C (là con với vợ cũ của ông A1) chăm sóc. Quá trình điều trị ông A1, bệnh viện thường xuyên thông báo, trao đổi, việc điều trị đối với Ông A1 cho ông D, bà A và anh C.

Khong đầu năm 2014, bà A có gửi đơn khiếu nại đề nghị xem xét, gửi đến Bệnh viện 19 8. Bệnh viện đã làm việc với gia đình gồm bà A, ông D và anh C nhưng sau đóbà A không đồng ý và có đơn gửi lên các cấp. Thanh tra Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật - Bộ Công an đã có thông báo số 254 ngày 06/6/2014 trả lời bà Ngô Thị A nhưngbà A tiếp tục gửi đơn đến nhiều nơi.

Naybà A khởi kiện yêu cầu Bệnh viện 19-8 bồi thường 512.300.000 đồng chi phí thuốc men, xét nghiệm, thuê xe, viện phí và tổn thất tinh thần, tính mạng của ông Đỗ Quang A1 trong thời gian điều trị.

Bệnh viện B có ý kiến, quan điểm như sau: Quy trình khám, chẩn đoán, điều trị cho bệnh nhân Đỗ Quang A1 đã được Bệnh viện thực hiện đúng quy trình chuyên môn và chẩn đoán bệnh. Bệnh viện B đã thực hiện đúng quy trình về thủ tục điều trị cho bệnh nhân Đỗ Quang A1. Quy trình thanh toán viện phí đã được Bệnh viện B làm rõ và có văn bản trả lời cho bà Ngô Thị A. Vì vậy yêu cầu của bà Ngô Thị A không có cơ sở, nên Bệnh viện B không đồng ý.

Anh Đỗ Quang C trình bày: Anh C là con của ông Đỗ Quang A1 và bà Phạm Thị Kim Oanh. Bố mẹ anh đã ly hôn năm 2007. Sau đó bố anh có đăng ký kết hôn với bà Ngô Thị A.

Sáng ngày 04/9/2012 Ông A1 có gọi điện báo đang nằm trong Bệnh viện 19- 8. Sau đó anh vào viện thấy bố anh đang nằm ở Khoa Nội 4 sau đó chuyển xuống Khoa lây truyền nhiễm ở Bệnh viện B. Trong ngày hôm đó chỉ có anh vàbà A ở Bệnh viện. Từ ngày 05/9/2012 cho đến lúc bố ra viện thì ngày nào anh C cũng vào trong viện chăm sóc thăm nom bố. Ngoài ra còn cóbà A, ông Đỗ Văn D (anh trai bố) ở quê lên chăm bố anh. Khoảng 1 tuần sau thì bố anh chuyển sang khoa Huyết học và sau đó chuyển xuống khoa Hồi sức cấp cứu.

Từ ngày 04/9/2012, khi bố anh vào viện thì chưa biết bố bị bệnh gì cụ thể mà chỉ bị sốt cao kéo dài. Đến khi chuyển lên khoa Huyết học thì bà A có gọi điện thông báo là bố anh bị ung thư máu. Đồng thời bác sĩ Tuấn ở khoa Huyết học cũng thông báo cho anh về việc bố anh bị bệnh ung thư máu, có giải thích về căn bệnh, phác đồ điều trị, nói rõ việc điều trị phải truyền hóa chất vào cơ thể, nguy cơ, hậu quả, sự cần thiết phải có sự chăm sóc của gia đình. Theo anh C hiểu thì bố anh bị bệnh hiểm nghèo, việc điều trị theo hướng dẫn của Bệnh viện. Bệnh viện cũng thông báo, trao đổi về bệnh tình của bố anh cho bà A và ông D.

Trong thời gian nằm điều trị ở khoa Huyết học thì lúc đầu chỉ truyền thuốc khi đủ sức khỏe thì Bệnh viện truyền hóa chất 02 lần cho bố anh. Trong quá trình điều trị tại khoa Huyết học và các khoa khác ở Bệnh viện đối với bố tôi không có vấn đề gì xảy ra về thái độ phục vụ, điều trị. Người trực tiếp thường xuyên chăm sóc cho bố anh là bác D vàbà A. Ngoài lúc chăm sóc bố ở trong Bệnh viện thì anh về nhà ở tại địa chỉ số 10A Q17 ngõ 134 phố NAN, phường TM, quận HM, Hà Nội. Bố anh nằm điều trị ở khoa Huyết học khoảng tầm 15 - 20 ngày thì chuyển xuống khoa Cấp cứu hồi sức do tình hình bệnh của bố anh diễn biến xấu. Khoảng ngày 11/10/2012 do tình trạng của bố anh xấu đi, bệnh viện cũng thông báo cho gia đình tình trạng của bố anh xấu khó qua khỏi đêm nay. Anh có vào hỏi thì bố anh có nguyện vọng được về quê. Sau đó thìbà A có viết và ký lưu hồ sơ bệnh án xin Bệnh viện đưa Ông A1 về quê. Anh và bác D,bà A và mọi người trong gia đình cũng đồng ý đưa bố anh về quê theo nguyện vọng.

Trong thời gian bố anh nằm điều trị tại Bệnh viện B thì bà A chi trả, nộp tiền cho Bệnh viện, cụ thể có hóa đơn của Bệnh viện. Còn nếu phải mua thuốc bên ngoài thì bố anh lại đưa tiền cho bà A. Các chi tiêu, sinh hoạt của bác D đều do bố anh đưa tiền vì lúc đó bố anh có lương cònbà A không có việc làm.

Sáng ngày 14/10/2012 thì bố anh qua đời, anh và họ hàng tổ chức lễ tang bà A có mặt nhưng không đóng góp bất cứ một khoảng kinh phí nào. Sau khi cúng 3 ngày cho bố anh thì bà A đi về Hà Nội. Kể từ thời điểm bố anh mất cho đến nay bà A không đi lại, thăm hỏi gì gia đình. Đối với các khoản tiền tuất, hỗ trợ mai táng được hưởng theo chế độ của Nhà nước của bố anh thìbà A là người lĩnh và hưởng. Anh không có ý kiến gì đối với Bệnh viện 19 - 8 trong quá trình điều trị bệnh cho bố anh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2017/DS-ST ngày 12/9/2017, Tòa án nhân dân quận CG đã quyết định: Căn cứ Khoản 6 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 6 Điều 11 Pháp lệnh số 10/2009 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo:

Xử:

1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị A yêu cầu Bệnh viện B phải bồi thường tổng số tiền là 512.300.000 đồng chi phí thuốc men, xét nghiệm, thuê xe, viện phí và tổn thất tinh thần, tính mạng của chồngbà A là ông Đỗ Quang A1 .

2. Về án phí: Bà Ngô Thị A được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị A số tiền 6.123.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 005011 ngày 25/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận CG .

Ngoài ra bản án còn tuyên án về quyền kháng cáo của các bên đượng sự.

Ngày 12/9/2017, bà Ngô Thị A có đơn kháng cáo bản án số 22/2017/DSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân quận CG .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1- Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn, bị đơn là đúng luật tố tụng, tuy nhiên anh Đỗ Quang C là con ruột của ông Đỗ Văn A1, cấp sơ thẩm xác định là nhân chứng là chưa chính xác, cần xác định lại tư cách tham gia tố tụng của anh C trong vụ án này là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Về nội dụng vụ án: Bà Ngô Thị A yêu cầu Bệnh viện B bồi thường thiệt hại do việc chồng bà bị chết sau khi vào điều trị với số tiền: 512.300.000 đồng; Cụ thể: Tiền mua thêm thuốc ngoài: 5.000.000 đồng. Tiền xét nghiệm HIV: 100.000 đồng. Tiền thử đường huyết: 200.000 đồng. Tiền thuê xe bệnh viện: 2.000.000 đồng. Tiền viện phí lúc ra, vào viện: 5.000.000 đồng. Số tiền 500.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và tính mạng do Ông A1mất.

Xét thấy, nguyên nhân Ông A1 chồng bà Ngô Thị A bị chết là do ông A1 mắc bệnh hiểm nghèo, chứ không phải do cách điều trị của Bệnh viện B đối với ông A1 bà A cho rằng Bệnh viện điều trị không đúng cho Ông A1dẫn đến hậu quả chết người. Mặt khác, bà A không có tài liệu nào chứng minh nguyên nhân cái chết của Ông A1là do Bệnh viên 19 - 8 gây ra, cũng không có biên bản giám định pháp y xác định nguyên nhân chết của Ông A1là do Bệnh viện điều trị không đúng phương pháp. Do đó, yêu cầu bồi thường của bà A không có căn cứ chấp nhận. Cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của bà A là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự cũng đã chấp hành đầy đủ giấy báo gọi của Tòa án, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Bà Ngô Thị A kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo củabà A là hợp lệ.

Bà A yêu cầu Bệnh viện B bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe của ông Đỗ Quang A1 với tổng số tiền là 512.300.000 đồng. Tuy nhiên, tại công văn số 254 ngày 06/6/2014 của Thanh tra Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật - Bộ Công an đã trả lời việc khiếu nại của bà A là không có cơ sở. Tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay,bà A cũng không xuất trình thêm được chứng cứ nào khác, chứng minh Bệnh viện B có lỗi trong việc ông Đỗ Quang A1 bị chết. Vì vậy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà A. Đề nghị Hội đồng xét xử: bác đơn kháng cáo của bà Ngô Thị A đối với bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2017/DSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân quận CG. Đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nêu trên.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 147, 148, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 6 Điều 11 Pháp lệnh số 10 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và danh mục án phí, lệ phí Tòa án:

X:

1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Ngô Thị A đối với bản án dân sự sơ thẩm số 22/2017/DSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân quận CG , thành phố Hà Nội.

2. Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị A yêu cầu Bệnh viện B phải bồi thường tổng số tiền là 512.300.000 đồng chi phí thuốc men, xét nghiệm, thuê xe, viện phí và tổn thất tinh thần, tính mạng của chồng bà A là ông Đỗ Quang A1.

3. Về án phí: Bà Ngô Thị A được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị A số tiền 6.123.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 005011 ngày 25/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận CG , thành phố Hà Nội.

Về án phí phúc thẩm: Bà Ngô Thị A phải chịu 300.000đ án phí kháng cáo được trừ vào số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp tại biên lai AA/2015/0005282 ngày 03/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận CG , thành phố Hà Nội.

Án xử công khai phúc thẩm và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2018/DSPT ngày 23/01/2018 về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Số hiệu:19/2018/DSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/01/2018
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về