Bản án 19/2018/DS-ST ngày 22/06/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 

BẢN ÁN 19/2018/DS-ST NGÀY 22/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

 Ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2018/QĐXX-ST ngày 20 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2018/QĐST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T; địa chỉ: Tầng 2 Tòa nhà Ree, số 9 đường Đoàn Văn B, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy L; địa chỉ: 16A/119 T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (Văn bản ủy quyền số230/UQ-QTRR.17 ngày 12/6/2017 và số 14/UQTT-QTRR.17 ngày 22/3/2017 của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam  T). Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn là Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 31 tháng 3 năm 2015, chị Nguyễn Thị H có ký với Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T (viết tắt là VPB FC) Hợp đồng tín dụng số 20150331-133003-0001với VPB FC đ vay số tiền 29.800.000đ (Hai mươi chín triệu tám trăm nghìn) đồng, thời hạn vay là 30 tháng, lãi suất vay 2.91%/tháng; mục đích vay là tiêu dùng tín chấp (mua xe máy), phương thức cho vay là trả góp gốc và lãi hàng tháng. Sau khi ký kết hợp đồng VPB FC đã thực hiện việc giải ngân đầy đủ số tiền nói trên cho chị Nguyễn Thị H, quá trình thực hiện Hợp đồng vay từ ngày giải ngân đến ngày 12 tháng 6 năm 2017 chị Nguyễn Thị H đã trả được 10.535.000 đồng (trong đó trả nợ gốc là 4.725.345 đồng, trả lãi là 5.709.655 đồng), đến ngày 29 tháng 12 năm 2015 chị Hải không trả nợ cho VPB FC. Do chị Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hàng tháng như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và tính đến ngày 07/6/2017 chị Hải còn nợ VPB FC tổng số tiền là 34.219.798 đồng (trong đó 24.974.655 đồng, nợ lãi là 9.245.143 đồng), vì vậy Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị H phải trả cho VPB FC toàn bộ số tiền gốc và lãi một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn 1, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ xác định đến nay chị Hải vẫn thường xuyên sinh sống và làm việc bình thường tại địa chỉ nói trên chưa cắt khẩu, chuy n khẩu đi nơi khác, song chị Hải cố tình trốn tránh không hợp tác, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc ki m tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử chị Nguyễn Thị H đã biết nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị Nguyễn Thị H vẫn không có mặt và không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật k từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; bị đơn là chị Nguyễn Thị H chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật k từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời đi m Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275, 280, 357, 463, 466, 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T, chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại thôn 1, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng hiện nay chị Hải vẫn thường xuyên sinh sống tại địa chỉ nói trên. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định đ chị Nguyễn Thị H có mặt tại Tòa án trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T nhưng chị Nguyễn Thị H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là chị Nguyễn Thị H.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị H ký Hợp đồng tín dụng số 20150331-133003-0001 với Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T mục đích vay là tiêu dùng tín chấp. Vì vậy tranh chấp giữa Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T và chị Nguyễn Thị H là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng; bị đơn là chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại thôn 1, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn là Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải thanh toán trả toàn bộ số tiền nợ còn nợ là 34.219.798 đồng (trong đó 24.974.655 đồng, nợ lãi là 9.245.143 đồng). Bị đơn là chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị Hải vẫn không có ý kiến trình bày quan đi m của mình đối với yêu cầu khởi kiện của VPB FC ; Căn cứ vào Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150331-133003-0001đã ký giữa VPB FC và chị Nguyễn Thị H, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa đã đủ cơ sở đ xác định chị Nguyễn Thị H đã vay của VPB FC số tiền là 29.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 tháng , với mục đích vay tiêu dùng. Xét hợp đồng tín dụng được ký kết giữa chị Hải và người đại diện VPB FC là hợp đồng được giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng VPB FC đã giải ngân đủ số tiền vay cho chị Nguyễn Thị H. Trong quá trình vay, chị Nguyễn Thị H mới thanh toán trả cho VPB FC số tiền là 10.535.000 đồng, trong đó nợ gốc là 4.825.345 đồng, nợ lãi là 5.709.655đồng. Từ ngày 29 tháng 12 năm 2015 đến nay chị Hải không trả cho VPB FC bất kỳ khoản tiền nợ gốc và nợ lãi nào. Như vậy, chị Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho VPB FC theo nội dung đã thỏa thuận như trong hợp đồng, cụ th là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và nợ lãi đến hạn. Vì vậy, căn cứ Điều 275, 280, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VPB FC, buộc chị Nguyễn Thị H phải thanh toán trả toàn bộ số tiền là 34.219.798 đồng, trong đó 24.974.655 đồng, nợ lãi là 9.245.143 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc k từ ngày 23/6/2018 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận, chị Nguyễn Thị H phải thanh toán trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là chị Nguyễn Thị H phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại VPB FC số tiền tạm ứng án phí 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275, 280, 357, 463, 466, 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T buộc bị đơn chị Nguyễn Thị H phải thanh toán trả toàn bộ số tiền còn nợ là 34.219.798 đồng, trong đó 24.974.655 đồng, nợ lãi là 9.245.143 đồng

.2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 1. 710.000đ (Một triệu bảy trăm mười nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí 800.000 đồng (Tám trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005870 ngày 19/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng.từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụn

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


35
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về