Bản án 19/2018/HNGĐ-ST ngày 28/03/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 19/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28/3/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 428/2017/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2017 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 13/2018/QĐXX-ST ngày 13 tháng 2 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa 13/QĐ-HPT ngày 20/3/2018 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Chị Lê Thị Huyền T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ 25, KP4, P. T, TP. B, tỉnh Đ.

2. Bị đơn: Anh Trương Quốc V, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà.)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2017; Bản tự khai, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Huyền T trình bày:

Chị T và anh Trương Quốc V tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2015 tại UBND xã T, huyện Đ. Cuộc sống chung thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả lẫn nhau, khoảng tháng 9 năm 2016 vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh V.

- Về con chung: không có con chung.

- Về tài sản chung: không có tài sản chung.

- Về nợ chung: không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 17/11/2017 bị đơn anh Trương Quốc V trình bày:

Anh thừa nhận thời gian chung sống, những mâu thuẫn vợ chồng như nguyên đơn trình bày là đúng, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

- Về con chung: không có con chung.

- Về tài sản chung: không có tài sản chung.

- Về nợ chung: không có nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành tốt quy định tố tụng, bị đơn được triệu tập hợp lê đến lần thư 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung là đúng quy định.

Về nội dung:  Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do tòa án thu thập thì mâu thuẫn giữa chi Thương và anh Vương đã trầm trọng nên yêu cầu ly hôn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

(1) Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục, tống đạt hợp lệ cho các bên đương sự, các đương sự không thắc mắc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng Thẩm phán giải quyết vụ án nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đều hợp pháp. Về vắng mặt của bị đơn trong vụ án đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

(2) Về nội dung:

Tại phiên tòa, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung, yêu cầu ghì thêm.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thấy rằng, thực tế cuộc sống chung giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả. vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2016 đến nay. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn.

Bị đơn thừa nhận mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn hành phúc như nguyên đơn đã khai là đúng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tung dân sự đây là những tình tiết được xem là có thật và xác định tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: vợ chồng không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự tự khai không có nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 227, 235, 266 - Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Huyền T, chị T được ly hôn với anh Trương Quốc V.

2.Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp sang án phí theo biên lai thu tiền số 004496 ngày 08/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, chị Th đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyênán. Riêng bị đơn vắng mặt đươc tính từ ngày nhận được bản án hoặc tòa án niêm yết theo quy định.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2018/HNGĐ-ST ngày 28/03/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:19/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về