Bản án 19/2018/HS-ST ngày 05/06/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 19/2018/HS-ST NGÀY 05/06/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 05 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2018/TLST-HS ngày 10/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1211/2018/QĐST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H (Tên gọi khác: không); Sinh ngày 18/12/1998; Nơi sinh: tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: 6/3 ấp TL, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Họ tên cha: không rõ lai lịch; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hướng; sinh năm: 1974 (sống). Đăng ký thường trú: 6/3 ấp TL, xã B, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; Bị cáo chưa có vợ; Bị cáo có 01 người chị, 01 người anh và 01 người em ruột; lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2002; Từ nhỏ sống chung với gia đình, đi học đến lớp 06 thì nghỉ học ở nhà tại ấp TL, xã B. Ngày 28/9/2016, bị Công an xã Bình Thạnh ra Quyết định số 18/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP  ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (mức phạt tiền thấp nhất là 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) và cao nhất là 1.000.000đ (một triệu đồng)). Bị cáo chưa nộp phạt. Tuy nhiên, khi bị xử phạt vi phạm hành chính, Nguyễn Minh H là người chưa thành niên và số tiền phạt 750.000đ (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) là vượt quá so với quy định tại khoản 3 Điều 134 Luật xử lý vi phạm hành chính (không quá ½ mức tiền phạt đối với người thành niên). Do Quyết định số 18/QĐ-XPHC nêu trên có nội dung không đúng với quy định của pháp luật nên không xem Nguyễn Minh H có tiền sự, dù chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Đến ngày 14/02/2017, có hành vi trộm cắp tài sản chưa đến mức xử lý hình sự nên ngày 04/5/2017, bị Công an xã Bình Thạnh ra Quyết định số 38/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) (bị cáo chưa thực hiện việc nộp phạt). Đến ngày 14/10/2017, Nguyễn Minh H tiếp tục có hành vi lấy trộm điện thoại của anh Nguyễn Văn M ở ấp AT, xã AT nên bị khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo để điều tra và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 38/QĐ-XPHC ngày 04/5/2017 của Công an xã Bình Thạnh, huyện P, tỉnh Bến Tre.

- Bị Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 10 ngày 08/02/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Phú.

- Bị cáo tại ngoại có mặt tại Tòa.

Bị hại: Nguyễn Văn M, sinh năm 1985, địa chỉ: ấp AT, xã AT, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Văn L, sinh năm 1983, địa chỉ: ấp AT, xã AT, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

- Mai Thành D, sinh ngày 31/12/2003; địa chỉ: 365/2 ấp TB, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

Người giám hộ của Mai Thành D: Nguyễn Thị V, sinh năm 1980; đại chỉ: 365/2 ấp  TB, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

- Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/01/2002; địa chỉ: 102/4 ấp TL, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

- Người giám hộ của Nguyễn Thị Thu H1: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1965; địa chỉ: 102/4 ấp TL, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh H mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi nêu trên, cụ thể: Vào tối ngày 13/10/2017, Nguyễn Minh H được Mai Thành D (sinh ngày 31/12/2003, cư trú ấp Thạnh Quí B, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre) rủ đi đến nhà của anh Nguyễn Văn M (sinh năm 1985, là cậu ruột của D), tọa lạc tại ấp An Thạnh, xã An Thạnh, huyện P, tỉnh Bến Tre để lấy trộm tài sản. Dù không đồng ý nhưng đến khoảng 01 giờ ngày 14/10/2017, Nguyễn Minh H vẫn cùng với D và Nguyễn Thị Thu H1 (sinh ngày 01/01/2002; cư trú ấp TL, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre; là bạn của D) đi bộ từ thị trấn P đến nhà anh M. Khi đến nơi, D đột nhập vào nhà anh M lấy 01 (một) máy tính bảng, nhãn hiệu Apple, màu trắng, số serial: F8QRF04DR4YJ của anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1983 là anh ruột của anh M). Riêng H và H1 ngồi đợi bên ngoài (cách nhà anh M khoảng 100m). Sau khi lấy được tài sản, D đến gặp H và H1 để cùng ra về. Do được D cho biết bên trong nhà anh M còn có một cái điện thoại di động nên H nảy sinh ý định lấy trộm mang về để sử dụng. Để thực hiện ý định trên, H đi đến nhà anh M, đột nhập vào nhà thì thấy 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO NEO 5, màu đen, màn hình cảm ứng bên trong có 01 thẻ nhớ 08GB, 01 (một) sim điện thoại hiệu Mobifone số thuê bao 0939099086 và 01 (một) sim điện thoại 3G của anh M đang được sạc pin trên đầu giường ngủ nên lấy bỏ túi quần đi ra ngoài gặp D và H1 rồi cả ba cùng đi về nhà. Sáng cùng ngày, D và H1 đem máy tính bảng đến huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bán. Riêng H, trên đường đi về nhà đã tháo hai sim, ốp lưng của điện thoại vứt bỏ (không thu hồi được). Sau đó, H gắn sim điện thoại của H vào để sử dụng thì bị công an mời làm việc và Nguyễn Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên; đồng thời giao nộp điện thoại cho cơ quan Công an thu giữ.

Vật chứng của vụ án được thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO 5, 16 GB, màu đen, số IMEI1: 860159030829090, số IMEI2: 860159030829082, 01(một) thẻ nhớ dung lượng 08GB.

Ngoài ra, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Phú còn tạm giữ 01 (một) máy tính bảng (Ipad), màu trắng, bị nứt kiếng màn hình ở gần chui tai nghe, có số serial: F8QRF04DF4YJ, do Mai Thành D lấy trộm và đem bán. Sau đó, anh Nguyễn Văn L chuộc lại và giao nộp máy tính bảng trên cho Cơ quan điều tra. Đến ngày 21/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Phú đã trao trả lại tài sản nói trên cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn L.

Tại Kết luận định giá tài sản số 117/KL-HĐĐG ngày 27/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thạnh Phú kết luận tài sản bị chiếm đoạt có giá trị như sau.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO 5, 16 GB, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI1: 860159030829090, số IMEI2: 860159030829082 có giá trị là 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng).

+ 01 (một) thẻ nhớ dung lượng 08GB có giá trị là 50.000đ (năm mươi ngàn đồng).

+ 01 (một) sim điện thoại mạng Mobifone 0939099086 có giá trị là50.000đ (năm mươi ngàn đồng).

+ 01 (một) sim 3G sử dụng truy cập Internet, mạng Mobifone có giá trị là 110.000đ (một trăm mười ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Minh H chiếm đoạt là 810.000đ (tám trăm mười ngàn đồng).

Đối với máy tính bảng  Mai Thành D đã lấy trộm, qua định giá xác định giá trị là 6.000.000 đồng. Ngoài ra, bên trong máy tính bảng còn  có một sim 3G mạng Mobifone trị giá 110.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là  6.110.000 đồng.

Ngày 21/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Phú quyết định xử lý vật chứng và trao trả điện thoại di động đã tạm giữ cho anh Nguyễn Văn M. Anh M đã nhận lại đúng tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: áp dụng khoản 1; điểm g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đồng thời yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Nguyễn Văn M thống nhất với nội dung bản cáo trạng và xác nhận đã nhận lại đúng tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với vật chứng đã được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra có đủ cơ sở xác định: Với động cơ tư lợi cá nhân nên mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 14/10/2017, Nguyễn Minh H vẫn tiếp tục đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn M, tọa lạc tại ấp AT, xã AT, huyện P, tỉnh Bến Tre, lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO NEO 5, 16GB, màu đen, bên trong có 01 thẻ nhớ 08GB, 01 (một) sim điện thoại số 0939099086 và 01 (một) sim điện thoại 3G mạng Mobifone. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 810.000đ  (tám trăm mười ngàn đồng).

[3] Bị cáo Nguyễn Minh H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại với giá trị là 810.000 đồng với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, Cáo trạng số11/CT-VKSTP-HS Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị xử lý. Tuy nhiên, xuất phát từ bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:  Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tài sản trả lại cho bị hại để khắc phục hậu quả; bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có ông ngoại Nguyễn Văn Kề là người có công với cách mạng được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy, bị cáo có cậu ruột Nguyễn Văn Thái được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo được quy định tại các điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Do đó bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự  năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) khi xem xét để quyết định hành phạt . Tuy nhiên bị cáo có nhân thân không tốt, bản thân bị cáo chưa có tiền án nhưng có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 38/QĐ-XPHC ngày 04/5/2017 của Công an xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre nên bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy việc áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho cộng đồng.

[6] Đối với Mai Thành D và Nguyễn Thị Thu H1 có hành vi lấy trộm máy tính bảng có tổng giá trị là 6.110.000 đồng của anh Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi, thì D và H1 chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, sẽ đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Phú xem xét xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thu H1. Riêng Mai Thành D, do không thuộc đối tượng bị xử phạt và xử lý vi phạm hành chính (chưa đủ 14 tuổi) nên giao cho gia đình giáo dục. Ngoài ra, Nguyễn Minh H có hành vi cùng đi với Mai Thành D đến địa điểm mà D lấy trộm máy tính bảng. Tuy nhiên khi đi, H không có thống nhất ý chí với D về việc lấy trộm tài sản cũng như thỏa thuận hưởng lợi từ hành vi nói trên nên H không là đồng phạm trong trường hợp này.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: do gia đình bị cáo Nguyễn Minh H thuộc diện hộ nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

1. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Minh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí hinh sự sơ thẩm: Do gia đình bị cáo Nguyễn Minh H thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/6/2018) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2018/HS-ST ngày 05/06/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:19/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạnh Phú - Bến Tre
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về