Bản án 19/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 về tội tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 19/2018/HS-ST NGÀY 10/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/TLST- HS ngày  15  tháng  3  năm  2018  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án  ra  xét  xử  số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 26/3/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm 9, xó Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Trịnh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giữ ngày 21/01/2018; áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 29/01/2018. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 3, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần văn D, sinh năm 1954; trú tại: Xóm 9, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1965; trú tại: Xóm 10, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cỏc tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 ngày 21/01/2018, Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tuần tra trên QL21A thuộc địa phận xóm 16, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam phát hiện thấy Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 ở xóm 10, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam đang điều khiển xe ôtô BKS 98C-131.61 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu Nguyễn Văn H dừng xe để kiểm tra thì phát hiện, thu giữ tại ghế phụ cabin xe 01 bao tải màu trắng bên trong có 100 vật không rõ hình, các vật đều gắn dây màu xanh và 01 thùng catton bên trong có 03 hộp nhỏ, bên ngoài có chữ nước ngoài. Nguyễn Văn H khai nhận 100 vật không rõ hình là pháo trứng, 01 hộp nhỏ là 03 dàn pháo hồng, mục đích cất giấu để sử dụng. Công an huyện Kim Bảng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ký hiệu QT01. Ngoài ra thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Iphone màu đen, 01 xe ôtô BKS 98C-131.61, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, số tiền 2.800.000đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H không phát hiện, thu giữ gỡ.

Tại bản kết luận giám định số 93/KTHS ngày 22/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: 100 vật hình bóng điện trên cùng loại ký hiệu A1 là pháo, có đặc tính của pháo nổ (Chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 3,646kg; 03 vật hình khối hộp vỏ màu đỏ vàng cùng loại gồm 36 quả hình trụ kết lại ký hiệu A2 là pháo, có đặc tính của pháo nổ (Chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 4,385kg. Tổng khối lượng các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 là 8,031kg.

Về nguồn gốc số pháo nổ: Nguyễn Văn H khai nhận gọi qua điện thoại mua của một người đàn ông tên là T ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Do H không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng của người bán này nên Cơ quan điều tra không làm rừ được.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSKB ngày 12/3/2018, Viện Kiểm sát nhận dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đó truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 50; điểm s điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 tháng  đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo H cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Bị cáo nhất trí cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng trong quá trình điều tra, truy tố đó thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, người làm chứng, bản kết luận giám định về thời gian, địa điểm cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 21/01/2018, tại xóm 16, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam bắt quả tang Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép trên cabin xe ô tô 8,031kg pháo nổ, mục đích để sử dụng vào dịp tết nguyên đán. Hành vi đó của Nguyễn Văn H đó phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ hành vi cất giấu tại ghế phụ cabin xe ô tô 100 pháo trứng và 03 dàn pháo hồng không có giấy phép hợp lệ là trái pháp luật vỡ pháo nổ là một trong các loại hàng hóa mà Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường mà vẫn thực hiện.

[3] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hinh sự. Thấy, Nguyễn Văn H chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự được quy định tại điểm s điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị của Viện kiểm sát.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể phạt bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng…” . Tuy nhiên thấy lời khai của bị cáo tại phiêm tòa và các tài liệu chứng cứ thì bị cáo là lao động tự do, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc pháo nổ: Nguyễn Văn H khai nhận mua của người đàn ông tên là T ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình qua điện thoại. Do Hồng không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng của người đàn ông đã bám cho bị cáo nên cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Gồm 98 quả pháo nổ hình bóng điện tròn cùng loại, mỗi quả có KT 6,5cm, đường kính đầu to 4cm, đường kính đầu nhỏ 2,5cm và 03 hộp pháo cùng loại vỏ màu vàng đỏ, mỗi hộp có KT (14x14x15)cm là vật cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy. Đối với số tiền 2.800.000đồng là tiền do bị cáo lao động mà có, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo. 01 điện thoại Iphone màu đen, máy đó qua sử dụng bị cáo sử dụng gọi để mua pháo nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra cơ quan điều tra đó trả lại cho chị Đinh Thị H 01 xe ô tô BKS 98C-131.61 cùng giấy tờ xe, chị H đã nhận tài sản và không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều  135;  Điều  136  Bộ  luật  Tố  tụng  Hình  sự;  Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332333, 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 50; điểm s điểm i khoản 1 Điều 51; điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thig thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 98 quả pháo hình bóng điện cùng loại, mỗi quả có KT 6,5cm, đường kính đầu to 4cm, đường kính đầu nhỏ 2,5cm và 03 hộp pháo cùng loại vỏ màu vàng đỏ, mỗi hộp có KT (14x14x15)cm. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone màu  đen,  máy  đó  qua  sử  dụng.  Trả  lại  cho  bị  cỏo  Nguyễn  Văn  H  số  tiền 2.800.000đồng (Tình trạng, số lượng như biên bản bàn giao giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 13/3/2018; ủy nhiệm chi).

3. Án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và  lệ phí Toàn án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 về tội tàng trữ hàng cấm

Số hiệu:19/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Bảng - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về