Bản án 19/2018/HS-ST ngày 18/05/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 19/2018/HS-ST NGÀY 18/05/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 18 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 20/2018/HSST ngày 09/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST- HS ngày 14/5/2018 đối với bị cáo:

Lê Thanh B - Sinh năm 1969. Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 12/12. Giới tính: Nam. Con ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị S. Vợ: Phạm Thị T Con: Có 03 con. Con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008. Tiền án: Chưa có. Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 110/QĐ-XPHC ngày 12/9/2017 của Công an huyện A xử phạt 1.000.000đ về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ- Công an huyện A từ ngày 17/4/2018 đến ngày 20/4/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 14 ngày 20/4/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện A và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01 ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện A.

Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn T SN 1963 (có mặt). Trú tại: Thôn G, xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên.

2. Anh Nguyễn Văn H SN 1972 (có mặt)

3. Ông Nguyễn Quang B SN 1964 (có mặt) Đều trú tại: Thôn M, xã H, huyện A, Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 20 giờ ngày 17/4/2018 Nguyễn Văn H và Nguyễn Quang B đều ở thôn M, xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên đến nhà Phạm Văn T ở thôn G, xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên chơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày Lê Thanh B ở cùng thôn với T đến nhà T chơi. Tất cả ngồi chơi uống nước thấy có bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để ở bàn nên B cầm bộ bài ở bàn và tất cả rủ nhau vào gian trong nhà của T đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh liêng. B không có tiền đã vay của T 300.000đ để đánh bạc. Khi đánh bạc Quang B có 500.000đ, Thanh B có 300.000đ, H có 250.000đ và quy định trống cửa 10.000đ, tố cao nhất không quá 30.000đ, tính chất theo thứ tự rô- cơ- tép- bích, sáp to nhất song đến liêng rồi đến tính điểm theo quy định. Ai thắng thì cầm bài chia mỗi người 03 quân bài rồi đặt tiền và lên bài. Các đối tượng đánh bạc được một lúc thì T vào tham gia đánh bạc cùng, T có 1.500.000đ. Quá trình đánh bạc có người thắng, người thua, Thanh B thua hết tiền và vay thêm của T 700.000đ để tiếp tục đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 22 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Công an huyện A phối hợp cùng công an xã H phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài và tổng số tiền 2.550.000đ (thu dưới nền nhà tại nơi các đối tượng đánh bạc số tiền 850.000đ, thu trên người các đối tượng số tiền 1.700.000đ trong đó, thu trên người T 700.000đ, thu trên người Quang B 1.000.000đ, trên người Thanh B và H không có tiền).

Hành vi đánh bạc của các đối tượng Nguyễn Quang B, Nguyễn Văn H, Phạm Văn T trong vụ án này số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000đ. Bản thân các đối tượng H, Quang B, T chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không phạm tội đánh bạc. Ngày 05/5/2018 Công an huyện A đã ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38, 39, 40 đối với Phạm Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Quang B về hành vi đánh bạc nêu trên.

Tại bản quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 20/CT- VKS- AT ngày 09/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố Lê Thanh B về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh B phạm tội Đánh bạc. Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh B từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ x 3= 9 ngày.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án này. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo B.

Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng : Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.550.000 đ (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng). 

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên toà bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và mong Hội đồng xét xử cho cải tạo tại địa phương vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Người có QLNVLQ không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như bản tường trình của bị can, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang... Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 20 giờ ngày 17/4/2018 Lê Thanh B đã cùng Nguyễn Văn H, Nguyễn Quang B, Phạm Văn T có hành vi đánh bạc tại nhà của Phạm Văn T bằng hình thức đánh liêng thì bị Công an huyện A bắt quả tang. VËt chøng thu gi÷ gåm: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài và số tiền 2.550.000đ.

Hành vi đánh bạc của các đối tượng Nguyễn Quang B, Nguyễn Văn H, Phạm Văn T trong vụ án này số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000đ. Bản thân các đối tượng H, B, T chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên ngày 05/5/2018 Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Quang B về hành vi đánh bạc nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lê Thanh B có số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000đ nhưng bản thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc nên đã phạm tội đánh bạc quy định khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng của VKSND huyện A đã truy tố là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật..

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh nông thôn, ảnh hưởng đến kinh tế mỗi gia đình. Đánh bạc còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lời bất chính. Trong giai đoạn hiện nay, các tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn cờ bạc gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, vì vậy việc đưa ra xét xử nghiêm minh người phạm tội là rất cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe những người khác trong việc phòng chống tội phạm này.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Bị cáo Bình không có tình tiết tăng nặng TNHS nào. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Lê Đình Tung được Chủ tịch Hội đồng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đầy, ngoài ra bị cáo còn có đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn của UBND xã H nên bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc ngày 12/9/2017. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ bị bệnh tâm thần kinh, 03 con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, thu nhập chủ yếu từ nghề nông nghiệp. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hứa sẽ quyết tâm sửa chữa sai lầm. Vì vậy, HĐXX xét thấy chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét hoàn cảnh kinh tế của bị cáo rất khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng : CQĐT đã thu giữ số tiền 2.550.000 đ, đây là tiền bị cáo và các đối tượng H, B, T dùng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước. 52 quân bài là công cụ dùng vào việc phạm tội, có giá trị sử dụng không lớn nên cho tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh B phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh B 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ x 3= 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án này.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo B.

Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện A, tỉnh Hưng Yên trong việc giám sát giáo dục người bị kết án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng : Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.550.000 đ (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội năm 2016. 

Bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí sơ thẩm hình sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2018/HS-ST ngày 18/05/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:19/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ân Thi - Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về