Bản án 19/2019/HS-PT ngày 31/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 19/2019/HS-PT NGÀY 31/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31/7/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2019/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Văn M do có kháng cáo của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2019/HSST ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo bị kháng cáo: Hoàng Văn M - Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 4 năm 1972; Nơi sinh tại huyện V, tỉnh Lào Cai.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12.

Tiền án; tiền sự; nhân thân: Không.

Con ông Hoàng Xuân P, con bà Lục Thị V.

Vợ: Hà Thị L; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại có kháng cáo: Bà Đỗ Thị X, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Tổ 8, thị trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại phiên tòa)

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:

Người bị hại không có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982.

Trú tại: Địa chỉ: Thôn Y, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại phiên tòa).

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Văn M là nhân viên bảo vệ chợ Trung tâm huyện V, tỉnh Lào Cai. Khoảng 23 giờ ngày 15/11/2018, Hoàng Văn M đang ở phòng trực bảo vệ nghe thấy tiếng chó sủa nên cầm theo đèn pin đi kiểm tra xung quanh chợ nhưng không phát hiện thấy gì bất thường. M quay về phòng trực, khi đi qua khu hàng quần áo (khu A) của chợ, M nảy sinh ý định trộm cắp quần áo, dày dép về sử dụng và bán lấy tiền. M dùng chìa khóa mở cửa xếp khu hàng quần áo vào bên trong, rồi kéo cửa xếp móc khóa lại. M lấy chiếc điện thoại Nokia 1280 của mình ra, bật đèn để soi đường. Khi đi đến ki ốt A11 là ki ốt bỏ không, M nhặt được 01 chiếc bao tải màu trắng đã cũ cầm theo, rồi đi vào ki ốt A16 và A22 bán quần áo của bà Đỗ Thị X, M lấy 09 chiếc quần vải, 02 chiếc quần Jean và 01 đôi dày nhãn hiệu ASIA, sau đó M vào ki ốt A14 bán quần áo của chị Nguyễn Thị H, lấy 02 chiếc quần vải. M cho tất cả tài sản đã lấy trộm được vào bao tải và sách đi ra. Khi M sách bao tải đi ra ngoài thì bị người dân phát hiện, bắt giữ và mời Công an thị trấn K đến giải quyết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-ĐGTS ngày 22/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện V kết luận: 09 chiếc quần vải, 02 chiếc quần Jean và 01 đôi giày nhãn hiệu ASIA size 38, có tổng trị giá 2.370.000đ; 02 chiếc quần nữ màu đen trị giá 350.000đ. Tổng cộng trị giá tài sản là 2.720.000đ.

Bản án số: 20/2019/HS-ST ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 07 tháng tù và phạt 5.000.000đ.

Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 07/6/2019, người bị hại Đỗ Thị X có đơn kháng cáo quá hạn không nhất trí với toàn bộ bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo quá hạn của người bị hại được Tòa án nhân dân tỉnh chấp nhận.

* Tại phiên toà:

Bị cáo Hoàng Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại Đỗ Thị X giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để điều tra lại vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 20/2019/HSST ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện V.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy đêm 15/11/2018, Hoàng Văn M bị bắt quả tang về hành vi trộm cắp tài sản có nhiều người tham gia bắt giữ nhưng Công an thị trấn K, huyện V không tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang mà chỉ lập biên bản làm việc là không đúng. Tuy nhiên, sai sót này không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án nhưng cần rút kinh nghiệm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lợi dụng là bảo vệ chợ, đêm 15/11/2018, bị cáo Hoàng Văn M đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của một số hộ tiểu thương trong chợ, cụ thể: 09 chiếc quần vải, 02 chiếc quần Jean và 01 đôi giày nhãn hiệu ASIA của chị Đỗ Thị X, trị giá tài sản là 2.370.000 đồng; 02 chiếc quần nữ màu đen của chị Nguyễn Thị H trị giá 350.000 đồng; Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 2.720.000đồng. Vì vậy, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện V xét xử, xử phạt 07 tháng tù và phạt 5.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét kháng cáo của người bị hại Đỗ Thị X, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là bảo vệ, có năng lực trách nhiệm hình sự. Lợi dụng việc được giao trông nom, quản lý bảo vệ các quầy hàng của các tiểu thương trong chợ, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các tiểu thương. Bị cáo bị bắt quả tang khi thực hiện hành vi trộm cắp 13 chiếc quần và 01 đôi giầy của hai người bị hại với trị giá 2.720.000 đồng. Vì vậy mức án 07 tháng tù giam và phạt 5.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang vào đêm 15/11/2018 không có căn cứ nào để khẳng định bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác hoặc cùng người khác thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Người bị hại kháng cáo cho rằng trong thời gian qua, các tiểu thương trong chợ bị mất trộm nhiều lần với nhiều tài sản có giá trị và người bị hại cho rằng có sự tham gia của bị cáo. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, người bị hại không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh bị cáo Hoàng Văn M đã nhiều lần trộm cắp tài sản của bị hại hay của những người khác. Bản thân người bị hại cũng thừa nhận đêm 15/11/2018 bị hại chỉ bị mất 09 chiếc quần vải, 02 chiếc quần Jean và 01 đôi dày nhãn hiệu ASIA, trị giá tài sản bị mất là 2.370.000 đồng.

Vì vậy xét thấy kháng cáo của người bị hại Đỗ Thị X là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Đỗ Thị X, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 20/2019/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai về phần hình phạt như sau:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bị cáo Hoàng Văn M 5.000.000đ nộp ngân sách nhà nước.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


20
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 19/2019/HS-PT ngày 31/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:19/2019/HS-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lào Cai
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:31/07/2019
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về