Bản án /2007/KDTM-ST ngày 08/05/2007 về tranh chấp hợp đồng gia công

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN /2007/KDTM-ST NGÀY 08/05/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GIA CÔNG

Ngày 08 tháng 05 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 642/2006/TLST-KDTM ngày 21 tháng 09 năm 2006 tranh chấp kinh doanh thương mại về “ hợp đồng gia công “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 731/TLST-KDTM ngày 19 tháng 04 năm 2007 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Thang máy Thiên Nam

Địa chỉ số 1/8 C Hoàng Việt Quận Tân Bình

Đại diện uỷ quyền : Bà Lê thị Lan Hương

Địa chỉ cư trú : 123/2 Nguyên Hồng, Phường 11 Quận Bình Thạnh

(Văn bản uỷ quyền ngày 30/10/2006.)

Bị đơn: Bà Phan Thị Minh Huệ

Địa chỉ số 452 Nguyễn Tất Thành, Phường 18 Quận 4 TP.HCM.

(Phiên Tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn không lý do)

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện ngày 09/8/2006 nguyên đơn là Công ty CP Thang máy Thiên Nam và các lời trình bày tiếp theo của bà Lê thị Lan Hương là đại diện theo uỷ quyền thì nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng kinh tế số 146.02 vào ngày 25/10/2002 về việc nguyên đơn lắp đặt một thang máy tải khách hiệu Thiên Nam cho bị đơn, đặt tại số 452 Nguyễn Tất Thành , P.18 Quận 4. Tổng giá trị hợp đồng là 160.000.000 đồng. Nguyên đơn đã bàn giao thang máy và nhận tiền thanh toán của bị đơn là 96.000.000 đồng, bị đơn còn nợ lại là 64.000.000 đồng . Kể từ ngày 19/1/2006 đến nay nguyên đơn đã nhiều lần đòi nợ nhưng bị đơn không thanh toán, vì vậy nguyên đơn yêu cầu Tòa buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ còn lại và tiền lãi phạt do chậm thanh toán, ước tính là 5.760.000 đồng.

Tại văn bản tự khai ngày 04/12/2006 của bị đơn là bà Phan thị Minh Huệ và các lời trình bày tiếp theo đã xác nhận số nợ gốc còn thiếu nguyên đơn là 64.000.000 đồng phát sinh từ việc ký kết hợp đồng lắp đặt thang máy như nguyên đơn trình bày, sở dĩ chưa thanh toán là vì nguyên đơn vi phạm hợp đồng, cụ thể, về thời gian giao thang máy, thời gian thỏa thuận trong hợp đồng là 6 tháng tính từ khi ký hợp đồng là ngày 25/10/2002, khi bàn giao máy không có phiếu kiểm định chất lượng thang máy của Cơ quan kiểm định và phiếu được phép sử dụng, về chất lượng thang máy không đảm bảo vì thường xuyên hư hỏng phải yêu cầu nguyên đơn đến xử lý, bị đơn đã không đồng ý ký biên bản nghiệm thu nhưng vì nhân viên của nguyên đơn cam kết với bị đơn khi thang máy xảy ra sự cố gì sẽ đến sửa chữa ngay, tuy nhiên, sau đó nguyên đơn đã không thực hiện việc sửa chữa mặc dù vẫn còn trong thời gian bảo hành, nguyên đơn thực hiện xong các nghĩa vụ trên đồng ý thanh toán số tiền nợ, nhưng không chấp nhận việc trả lãi. Hiện tại thang máy không sử dụng do hư hỏng.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết qủa hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

Về tố tụng : Xét, Tòa án đã triệu tập hợp lệ 2 lần hoà giải đối với bị đơn về việc giải quyết theo yêu cầu khiếu nại về chất lượng hàng hoá nhưng bị đơn vẫn vắng mặt , vì vậy Tòa tiến hành việc tống đạt hợp lệ 2 lần tham dự phiên Tòa xét xử sơ thẩm, tuy nhiên, phía bị đơn đã vắng mặt không lý do, vì vậy căn cứ vào khoản 2 điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung : Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn thanh toán số tiền còn thiếu phát sinh từ hợp đồng kinh tế số 146.02/HĐKT ngày 25/10/2002 là 64.000.000 đồng là có căn cứ, bởi lẽ, theo chứng cứ của nguyên đơn xuất trình thể hiện tại bản đối chiếu công nợ ngày 06/10/2005 và biên bản hoà giải ngày 18/12/2006 thể hiện bị đơn đã xác nhận được còn nợ số tiền nêu trên.

Xét, hai bên đã thỏa thuận tại điều 3.2 Hợp đồng kinh tế số 146.02/HĐKT ngày 25/10/2002 về phương thức thanh toán, cụ thể lần 4 (lần sau cùng): Thanh toán 20% trị giá thanh toán hợp đồng sau 01 tháng kể từ ngày nghiệm thu bàn giao thang máy. Căn cứ vào biên bản nghiệm thu bàn giao thang máy số 108.03/BBNT ngày 19/12/2005 bị đơn đã tiến hành nghiệm thu thang máy do nguyên đơn bàn giao, do đó bị đơn phải thanh toán số tiền còn thiếu cho nguyên đơn, tuy nhiên đến nay vẫn không thực hiện, vì vậy nghĩ nên chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn .

Xét, về tiền lãi chậm thanh toán nguyên đơn yêu cầu là có cơ sở, bởi lẽ theo bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán là có lỗi, vì vậy phải có trách nhiệm trả lãi chậm trả tính từ ngày 20/1/2006 đến nay theo mức lãi suất do đại diện nguyên đơn yêu cầu là 1% là hợp tình hợp lý, nghĩ nên ghi nhận. Như vậy , thành tiền là (64.000.000 đồng x 1% x 15tháng 18 ngày = 9.984.000 đồng. Tổng cộng bị đơn phải thanh toán tiền gốc và tiền lãi là 73.984.000 đồng.

Xét, về thời hạn thanh toán phía nguyên đơn yêu cầu được thu hồi toàn bộ số tiền nợ gốc trong hạn 30 ngày ngay sau khi án có hiệu lực là phù hợp pháp luật, vì vậy nghĩ nên ghi nhận.

Xét, tại phiên Tòa đại diện nguyên đơn trình bày thang máy lắp đặt xong đúng thời hạn, tuy nhiên, do bị đơn không có mặt tại địa chỉ lắp đặt nên đến đầu tháng 8/2003 mới lắp đặt và ngày 8/8/2003 mới tổ chức kiểm định; thời gian nghiệm thu ngày 19/12/2005, sau đó, mặd dù đã hết thời hạn bảo hành nhưng vẫn đáp ứng việc sửa chữa theo yêu cầu của bị đơn và không thu tiền là vì lúc này tình trạng thang máy vẫn chưa ổn định.

Xét, trong quá trình hoà giải phía bị đơn có ý kiến cho rằng chất lượng thang máy không bảo đảm vì thường xuyên hư hỏng, nguyên đơn có đến sửa chữa nhưng liền sau đó lại hư hỏng lại vì vậy đã gây thiệt hại đến việc kinh doanh của bị đơn vì nhà bị đơn đang kinh doanh khách sạn, có 14 phòng, mỗi tháng thu nhập là 10.000.000 đồng ước tính thiệt hại 30%/tháng, tương ứng với thời gian từ ngày 19/12/2005 đến nay và nguyên đơn khi bàn giao thang máy chưa giao phiếu kiểm định chất lượng của Cơ quan kiểm định và giấy phép sử dụng thang máy nên không đồng ý thanh toán số tiền còn lại trên cho nguyên đơn là không thể chấp nhận được, bởi lẽ, trong trường hợp bị đơn giữ nguyên ý kiến trên thì phải có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn tham gia phiên hoà giải nội dung trên và nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định, tuy nhiên, phía bị đơn không có mặt tại Tòa án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, do đó, không có cơ sở để Tòa xem xét ý kiến khiếu nại trên của bị đơn.

Xét, tại phiên tòa phía nguyên đơn xác nhận biên bản kiểm định kỹ thuật an toàn tháng máy đã được lập vào ngày 08/08/2003, sau đó đã bàn giao thang máy cho bị đơn sử dụng vào 29/8/2003, tuy nhiên do bị đơn chưa thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng nên chưa giao biên bản kiểm định trên, nay đồng ý giao biên bản kiểm định, lý lịch thang máy và hồ sơ thang máy do Công ty CP thang máy Thiên Nam ( bản chính ) khi thu hồi số tiền trên,vì vậy nghĩ nên chấp nhận.

Các bên giao nhận tiền và giấy tờ trên tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh.

Về án phí : Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên phần phải trả nợ cho nguyên đơn ; nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm , được nhận lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005; điều 128,131 và 233 Luật thương mại năm 1998,điều 560 Bộ luật dân sự năm 1996, Khỏan 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án ngày 12 tháng 06 năm 1997; Khỏan 1 phần III thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của TANDTC – VKSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản, tuyên xử :

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Bà Phan thị Minh Huệ phải thanh toán số tiền thuê lắp đặt thang máy phát sinh từ hợp đồng số 146.02/HĐKT ngày 25/10/2002 cho Công ty cổ phần thang máy Thiên Nam với tổng số tiền là 73.984.000 đồng ( Bảy mươi ba triệu chín trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó, gồm tiền nợ gốc là 64.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 9.984.000 đồng.

- Công ty cổ phần thang máy Thiên Nam có trách nhiệm giao biên bản kiểm định kỹ thuật an toàn tháng máy số 1459/19/KĐ.HCM của Trung tâm kiểm định và huấn luyện kỹ thuật an toàn thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ chí Minh ngày 08/8/2003; lý lịch thang máy và hồ sơ thang máy của Công ty CP thang máy Thiên Nam lập ngày 03/9/2003 (bản chính) cho bà Phan thị Minh Huệ nhận.

-Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty CP Thang máy Thiên Nam đồng ý cho bà Phan thị Minh Huệ trả toàn bộ số tiền trên trong hạn 30 ngày ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật .

- Hai bên giao nhận tiền và giấy tờ trên cùng lúc tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP. Hồ chí Minh .

- Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

+Về án phí kinh tế sơ thẩm:

Bà Phan thị Minh Huệ phải chịu là 3.699.500 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM. Công ty Cổ phần Thang máy Thiên Nam không phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm nộp án phí là 1.744.000 đồng theo Biên lai số 2905 ngày 24/8/2006 của cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.


125
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án /2007/KDTM-ST ngày 08/05/2007 về tranh chấp hợp đồng gia công

Số hiệu:***/2007/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:08/05/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về