Bản án ***/2007/KDTM-ST ngày 14/06/2007 về tranh chấp hợp đồng mua bán

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN ***/2007/KDTM-ST NGÀY 14/06/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Ngày 14 tháng 06 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2005/TLST-KDTM ngày 26 tháng 10 năm 2005 tranh chấp kinh doanh thương mại về “ hợp đồng mua bán “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 886/2007/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 05 năm 2007 giữa các đương sự :

Nguyên đơn : Công ty Hoá chất TP.Hồ chí Minh

Địa chỉ : 938 Nguyễn thị Định, Phường Thạnh Mỹ Lợi Quận 2

Đại diện uỷ quyền : ông Nguyễn văn Hồng

Địa chỉ cư trú : 47B Quốc lộ 1K Ap Nội Hoá, xã Bình An, Huyện Dĩ An, Tỉnh Bình Dương

(Văn bản uỷ quyền ngày 04/05/2007 )

Bị đơn : Công ty TNHH Tasco Sàigòn

Địa chỉ : Lô 6, B1,KCN Tân Thới Hiệp, Quận 12

Đại diện uỷ quyền :

1- Ông Nguyễn Chánh Đức – Địa chỉ 109 Lý Tự Trọng Quận 1

2- Bà Trần thị Tuyết Hoa – Địa chỉ : 23/9 KP8 Phường Bình Hưng Hoà A, Quận Bình Tân

( Văn bản uỷ quyền ngày 5/12 /2005 )

Phiên Tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 08 năm 2005 nguyên đơn là Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh và các lời trình bày tiếp theo của ông Nguyễn văn Hồng là đại diện do uỷ quyền thì vào ngày 01/03/2005 nguyên đơn và bị đơn là Công ty TNHH Tasco Sàigòn ký hợp đồng kinh tế số 03/HĐMB, với nội dung thỏa thuận bị đơn bán cho nguyên đơn 4.000 bao container có lực tải trọng là 1,5Tấn/bao với tổng giá trị là 448.800.000 đồng. Đến tháng 04/2005 nguyên đơn đã nhận đủ số hàng đã ký kết và thanh toán 362.200.000 đồng, còn lại 86.600.000 đồng. Toàn bộ số hàng do bị đơn giao, nguyên đơn đã chuyển ra Cảng Cửa Lò – Nghệ An để chứa nguyên liệu đá, từ ngày 20/5/2005 đến 8/6/2005 đã đưa sử dụng 1.000 bao tương đương 15.000 tấn nhưng khi cho cẩu gom xếp lại để đưa hàng xuống tàu biển thì các bao đã bị rách ngang thân bao. Số hàng hư hỏng này đã chuyển về Công ty làm đối chứng và đã được phía bị đơn xác nhận chất lượng kém và đồng ý bồi thường. Số bao còn lại nguyên đơn tiếp tục sử dụng vào tháng 5+6/2005 thì cũng xảy ra tình trạng hư hỏng như cũ. Sau khi xử lý thay bao và vận chuyển bốc dỡ hàng lên tàu, xác định chỉ có 30% bao chứa hàng, tương đương 900 bao trong tổng số bao mà bị đơn đã ký bán. Sau đó, hai bên đã nhiều lần thương lượng nhưng phía bị đơn chỉ chấp nhận bồi thường 1.000 bao, vì vậy, việc giải quyết không có kết quả. Nay do bị đơn vi phạm hợp đồng vì đã giao hàng kém chất lượng nên nguyên đơn yêu cầu phải bồi thường thiệt hại , cụ thể,nguyên đơn chỉ sử dụng được 1.000 bao x102.000 đồng/bao = 102.000.000 đồng, do đó bị đơn phải hoàn trả lại số tiền là 260.200.000 đồng, thanh toán tiền vận chuyển hàng hoá là 16.914.286 đồng, tiền thuê đóng gói là 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 307.114.286 đồng. Thanh toán trong hạn 30 ngày kể từ khi án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, không chấp nhận theo yêu cầu phản tố của bị đơn về việc đòi thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu vì bị đơn đã vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận.

Tại văn bản tự khai ngày 04/12/2005 của bị đơn là Công ty TNHH Tasco Sàigòn và các lời trình bày tiếp theo của ông Nguyễn Chánh Đức và bà Trần thị tuyết Hoa là đại diện uỷ quyền xác nhận bị đơn có ký hợp đồng kinh tế số 03/HĐMB với nguyên đơn về việc cung cấp lô hàng 4.000 bao Jumbo bằng vải dệt PP,với tổng giá trị hợp đồng là 448.800.000 đồng, sau đó từ ngày 04/4/2005 đến 22/4/2005 bị đơn đã giao đầy đủ số hàng trên và nguyên đơn đã thanh toán nhiều đợt thành tiền là 362.200.000 đồng thì ngưng trả gây thiệt hại cho bị đơn, vì vậy bị đơn yêu cầu nguyên đơn thanh toán ngay số tiền nợ mua hàng còn thiếu là 86.600.000 đồng và lãi phạt chậm thanh toán theo quy định pháp luật. Đồng thời không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn đã giao đủ số hàng đúng quy cách,số lượng và chất lượng ghi theo hợp đồng. Nếu giao hàng không đạt phải thông báo ngay để bị đơn đến hiện trường xem xét mà lại để hư hỏng đến khoảng 3.000 bao tức là khoảng 4 tháng sau kể từ ngày giao hàng đầu tiên mới báo trong khi nguyên đơn vẫn tiếp tục thanh toán tiền cho bị đơn. Qua xem xét các bao hư hỏng tại kho của nguyên đơn, bị đơn cho rằng nguyên nhân dẫn đến hư hỏng hàng hoá là do nguyên đơn sử dụng không theo đúng chỉ dẫn, để trực tiếp dưới ánh nắng trong khoảng thời gian dài chờ vận chuyển, do đó, bị đơn không đồng ý chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết qủa hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

Về tố tụng : Xét, bị đơn là Công ty TNHH Tasco Sàigòn đã uỷ quyền cho bà Trần thị Tuyết Hoa và ông Nguyễn Chánh Đức được thay mặt giải quyết tranh chấp với Công ty Hoá chất TP.Hồ chí Minh, thời gian uỷ quyền cho đến khi vụ tranh chấp kết thúc. Xét giấy uỷ quyền này là hợp lệ do người đại diện trước pháp luật của bị đơn ký văn bản uỷ quyền nên Toà đã chấp nhận và tống đạt giấy triệu tập người đại diện đến Toà cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hoà giải và xét xử hợp lệ nhiều lần nhưng 2 đương sự trên vẫn vắng mặt, vì vậy căn cứ vào khoản 2 điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung : Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn bồi thường thiệt hại do giao hàng kém chất lượng, với số tiền bồi thường gồm các khoản là 307.114.286 đồng , HĐXX nhận thấy như sau :

Căn cứ các chứng cứ của phía nguyên đơn cung cấp và lời khai xác nhận của bị đơn trong quá trình hoà giải thể hiện giữa hai bên có ký kết hợp đồng kinh tế số 03/HĐMB vào ngày 01/3/2005, với nội dung thỏa thuận bị đơn bán cho nguyên đơn 4.000 bao Jumbo container có chịu lực tải trọng là 1.500 kgs/bao, trị giá hợp đồng là 448.800.000 đồng.

Căn cứ vào xác nhận của hai bên thể hiện từ ngày 04/4/2005 đến ngày 22/4/2005 đã giao nhận đủ số lượng bao đã thoả thuận trong hợp đồng là 4.000 bao Jumbo. Đồng thời, phía nguyên đơn đã thanh toán 5 đợt thành tiền là 362.200.000 đồng, sồ tiền còn lại là 86.600.000 đồng.

Xét, yêu cầu bồi thường của nguyên đơn vì cho rằng bị đơn đã giao hàng kém chất lượng, không đúng tải trọng đã thoả thuận là 1.500kgs/bao, là có cơ sở xem xét và chấp nhận, bởi lẽ,căn cứ vào xác nhận của bị đơn trong quá trình sử dụng nguyên đơn có khiếu nại về chất lượng hàng hoá vì vậy ngày 01/7/2005 bị đơn đã đến làm việc với nguyên đơn về chất lượng hàng hoá, do đó, căn cứ vào điều 241 Luật Thương mại năm 1998 quy định thì nguyên đơn đã khiếu nại trong thời hạn luật định nên có cơ sở để xem xét.

Căn cứ theo điều 61 Luật Thương mại năm 1998 đã quy định “ trước khi giao hàng, người bán phải kiểm tra chất lượng hàng hoá, chịu chi phí kiểm tra và cung cấp giấy chứng nhận chất lượng theo các điều kiện đã thỏa thuận với người mua”. Xét, trong quá trình hoà giải, phía bị đơn không chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ này và nguyên đơn cũng không thừa nhận việc bị đơn đã cung cấp giấy chứng nhận chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét, tại biên bản hòa giải ngày 12/1/2006 phía bị đơn đã cung cấp cho Tòa 01 bao bì có gắn tem hướng dẫn sử dụng và ghi tên Công ty Tasco SG để làm chứng cứ cho việc trưng cầu kiểm định tải trọng bao bì, tuy nhiên, tại tem huớng dẫn sử dụng trên đã xác định rõ tải trọng của bao bì chỉ là 1.000 kgs, như vậy, là không đúng tải trọng thỏa thuận trong hợp đồng. Xét, bị đơn yêu cầu kiểm định nhưng không có mặt khi Tòa triệu tập và tạm nộp dự phí Tuy nhiên, do phía nguyên đơn tự nguyện chịu lệ phí kiểm định nên Tòa án đã trưng cầu kiểm định bao bì trên, tuy nhiên, sau khi có kết quả kiểm định, Toà án đã triệu tập bị đơn đến để thông báo kết quả và yêu cầu cung cấp chứng cứ bổ sung do việc kiểm định không thực hiện được vì lực kéo của quai bao do mẫu quai ngắn, tuy nhiên, bị đơn không có mặt để chứng minh được là mình đã giao hàng đúng quy cách chất lượng hàng hoá, vì vậy căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ như công văn số 016/CV05 ngày 23/7/2005 Giám đốc Công ty TNHH Tasco Sàigòn đã xác nhận hàng hoá bị hư hỏng trong quá trình Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh sử dụng và cũng đã đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn 1.000 vỏ bao mới, như vậy, có cơ sở xác định việc hàng hoá hư hỏng là việc có thật và có thiệt hại thực tế đã xảy ra cho nguyên đơn.

Xét, phía bị đơn cho rằng không vi phạm điều khoản về quy cách chất lượng, tuy nhiên, như đã phân tích trên bị đơn không chứng minh được có sự xác nhận chất lượng theo quy định và khi cung cấp mẫu bao để kiểm định cũng thể hiện rõ tải trọng không đúng theo quy cách thỏa thuận trong hợp đồng, vì vậy bên bán có lỗi trong việc gây ra hư hỏng hàng đã bán cho nguyên đơn nên phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Xét, tại phiên Tòa hôm nay phía nguyên đơn cho rằng số lượng bao sử dụng được là 1.000 bao, số lượng thực tế này phù hợp với số lượng bao hư hỏng được bị đơn xác nhận trong đơn xin phản kiện số 119/CV-05 ngày 04/12/2005, trong đó, ý kiến của bị đơn đã xác nhận qua kiểm kê sơ bộ nguyên đơn đã báo cho bị đơn biết số lượng bao dùng được khoảng 1.000 bao, còn 3.000 bao hư hỏng. Như vậy, về số lượng hàng hoá hư hỏng nêu trên bị đơn không phản bác nên có cơ sở ghi nhận số hàng hư hỏng là 3.000 bao. Như vậy, căn cứ vào đơn giá đã thoả thuận thì nguyên đơn chỉ phải thanh toán trên số hàng sử dụng được là (1.000 bao x 102.000 đồng/bao) = 102.000.000 đồng, số tiền đã thanh toán được nhận lại là( 362.200.000 đồng – 102.000.000 đồng ) = 260.200.000 đồng.

Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền vận chuyển hàng hoá từ Ga Sóng thần đến Cảng Cửa lò Nghệ An là có cơ sở, bởi lẻ căn cứ vào hai hoá đơn GTGT số 10166 ngày 20/4/2005 và số 6258 ngày 25/4/2005 do nguyên đơn xuất trình thì số tiền thuê vận chuyển trên là 16.914.286 đồng Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn còn phải thanh toán một phần tiền thuê đóng gói bao bì lại là có cơ sở vì phù hợp nội dung đã thỏa thuận trong biên bản ngày 15/6/2005 về việc xử lý bao chứa đá 1,5 tấn kém chất lượng, vì vậy, toàn bộ lô hàng 1.500 tấn với đơn giá là 20.000 đồng/tấn = 30.000.000 đồng bị đơn cũng phải thanh toán. Như vậy, bị đơn phải thanh toán các khoản trên cho nguyên đơn thành tiền là 307.114.286 đồng.

Xét, yêu cầu phản tố của bị đơn về việc đòi nguyên đơn thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 86.600.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán bắt đầu từ 22/5/2005 đến tháng 12/2005 là 7.000.000 đồng. Tổng cộng là 93.600.000 đồng, yêu cầu này là không thể chấp nhận được, bởi lẽ, nguyên đơn đã sử dụng quyền của người mua phù hợp theo quy định của điều 72 Luật Thương mại năm 1998, do đó, việc nguyên đơn chưa thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng là vì trong quá trình sử dụng đã nhận thấy hàng bị hư hỏng và đã có khiếu nại, như đã nêu trên, tại Công văn số 016 ngày 23/7/2005 bị đơn cũng đã nêu phương án khắc phục hàng hoá bị hư hỏng bằng cách thay bằng vỏ bao mới hoặc trừ vào số tiền hàng còn thiếu, giả sử chấp nhận theo phương cấn trừ thì số lượng bao bên bị đơn đồng ý là 1.000 bao thành tiền là 102.000.000 đồng trong khi nguyên đơn chỉ còn nợ lại là 86.600.000 đồng, vì vậy nghĩ nên bác yêu cầu phản tố của bị đơn.

Xét, về thời gian thi hành phía nguyên đơn đồng ý cho bị đơn thành toán trong hản 30 ngày kể từ khi án có hiệu lực pháp luật là tự nguyên, nghĩ nên ghi nhận .

Về án phí : bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên phần phải thanh toán cho nguyên đơn và phần yêu cầu phản tố không được chấp nhận, nguyên đơn không phải chịu án phí .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005; Khỏan 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án ngày 12 tháng 06 năm 1997; Khỏan 1 phần III thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của TANDTC – VKSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản, tuyên xử :

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Công ty TNHH Tasco Sàigòn có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh số tiền bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng kinh tế số 03/HĐM ngày 01/3/2005 là 307.114.286 đồng, trong đó gồm :

- Hoàn trả số tiền hàng đã nhận là : 260.200.000 đồng

- Thanh toán tiền vận chuyển hàng là : 16.914.286 đồng

- Thanh toán tiền đóng gói lại hàng hoá là : 30.000.000 đồng.

- Bác yêu cầu của Công ty TNHH Tasco Sàigòn về việc yêu cầu Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 86.600.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán từ 22/5/2005 đến tháng 12/2005 là 7.000.000 đồng. Tổng cộng là 93.600.000 đồng.

- Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh đồng ý cho Công ty TNHH Tasco Sàigòn thanh toán toàn bộ số tiền trên trong hạn 30 ngày kể từ khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

+Về án phí kinh tế sơ thẩm: Công ty TNHH Tasco Sàigòn phải chịu là 15.021.429 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM., được cấn trừ vào số tiền tạm nộp là 2.340.000 đồng theo BL số 0909 ngày 13/12/2005 của Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh, còn phải nộp là 12.681.429 đồng. Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh không phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm nộp là 7.333.269 đồng theo BL số 0391 ngày 07/10/2005 của Thi hành án dân sự TP.HCM .

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ./.


136
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án ***/2007/KDTM-ST ngày 14/06/2007 về tranh chấp hợp đồng mua bán

Số hiệu:***/2007/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:14/06/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về