Bản án 20/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 20/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2017/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2017, về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2017/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ B, Bàng phường B, quận Đ, Hải Phòng; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Xuân L, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ B, Bàng phường B, quận Đ, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn khởi kiện ngày 03-3-2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị U trình bày:

- Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Hoàng Xuân L trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 1998 tại UBND phường V, quận Đ, Hải Phòng. Sau khi kết hôn, mặc dù giữa chị và anh L có những mâu thuẫn nhưng tự giải quyết với nhau được. Chị vì các con và mong muốn anh L tu chí làm ăn, nhưng không ngờ anh L ngày càng ham chơi cờ bạc dẫn đến cảnh nợ lần. Chị đã phải trả nợ thay cho anh L nhiều lần. Ngoài ra, anh L còn thường xuyên sống chung với người phụ nữ khác. Chị đã bỏ qua và khuyên anh L để vợ chồng chung sống, làm ăn và nuôi dạy các con, nhưng anh L vẫn không thay đổi. Vì thế, chị và anh L thường xuyên xúc phạm lẫn nhau. Đến khoảng tháng 8-2015, anh L đã bỏ nhà đi làm ăn ở xa, không cho chị biết là đang ở đâu và làm gì. Từ đó đến nay, anh L không liên lạc với chị, nhưng chị được biết anh L thường xuyên có liên lạc với gia đình bên nội của anh, chị có hỏi về thông tin của anh L nhưng gia đình anh từ chối không cung cấp. Việc nuôi dạy con đều do một mình chị. Chị thấy, anh L đã không còn quan tâm và không có trách nhiệm gì với vợ con, cuộc sống vợ chồng cũng đã không còn tồn tại nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Hoàng Xuân H1, sinh ngày 29-9-1998 và Hoàng Xuân H2, sinh ngày 11-01-2004. Cháu H1 đã trưởng thành và có việc làm ổn định nên chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị nhận nuôi cháu H2, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị và anh L không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh L theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã triêu tập anh L nhiều lần, nhưng anh L vẫn không đến Tòa tham gia tố tụng để giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án không có bản tự khai của anh L. Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình anh L và địa phương, cho thấy: Anh L đang sinh sống ở Việt Nam và thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về nơi cư trú.

Do anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ vắng mặt anh L theo khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng thời, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ cho anh L theo khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, chị U vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L; đề nghị Tòa án giao cháu H2 cho chị nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị U.

Về con chung: Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị giao cháu H2 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng.

Về án phí: Chị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về sự vắng mặt của anh Hoàng Xuân L: Tại phiên tòa ngày 07-9- 2017, anh L vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa, thông báo cho anh L biết về việc hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, anh L vẫn vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

 [2]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung, bị đơn là anh L cư trú tại tổ B, phường B, quận Đ, Hải Phòng; theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn.

 [3]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị U và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 1998 tại UBND phường V, quận Đ, Hải Phòng. Theo quy định tại các điều 5, 6 và 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

 [4]. Các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được xác định: Trong quá trình hôn nhân, chị U và anh L chung sống hòa thuận được mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L ham chơi cờ bạc, sống không chung thủy, thiếu trách nhiệm với gia đình. Đến khoảng tháng 8-2015, anh L đã bỏ nhà đi làm ăn ở xa và cố tình giấu địa chỉ, không cho chị U biết là đi đâu. Từ đó đến nay, anh L không còn quan tâm, liên lạc và có trách nhiệm gì với mẹ con chị U. Hội đồng xét xử xác định, hôn nhân của chị U và anh L đã không còn hạnh phúc; anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng; đời sống chung của chị U và anh L từ lâu đã không còn tồn tại nên có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị U đối với anh L, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

 [5]. Về nuôi con chung: Chị U và anh L có 02 con chung là Hoàng Xuân H1, sinh ngày 29-9-1998 và Hoàng Xuân H2, sinh ngày 11-01-2004. Cháu H1 đã trưởng thành và có việc làm ổn định, chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu H2, từ khi chị U và anh L ly thân cho đến nay, một mình chị U chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ cháu. Tại đơn đề nghị ghi ngày 28-4-2017, cháu H2 nêu nguyện vọng muốn được ở cùng với mẹ sau khi bố, mẹ ly hôn. Xét yêu cầu của chị U, xét nguyện vọng của cháu H2, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị U về việc nuôi con chung; việc giao cháu H2 cho chị U nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của cháu. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [6]. Về chia tài sản chung: Chị U nêu, giữa chị và anh L không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

 [7]. Về án phí: Chị U là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thâm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 [8]. Về quyền kháng cáo: Chị U và anh L được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị U, cho ly hôn giữa chị U và anh Hoàng Xuân L.

2. Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị U, giao con chung Hoàng Xuân H2, sinh ngày 11-01-2004 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hoặc cho đến khi chị U và anh L có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số AA/2010/7201 ngày 24-3-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, chị U đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị U có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:20/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Đồ Sơn - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về