Bản án 20/2017/HS-ST ngày 02/11/2017 về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 20/2017/HS-ST NGÀY 02/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VŨ KHÍ QUÂN DỤNG

Ngày 02 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2017/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Lao Văn Q, sinh ngày 20/01/1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và Chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng  Sơn.  Dân  tộc:  Nùng;  quốc  tịch:  Việt  Nam;  tôn  giáo:  Không;  nghề nghiệp; làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/12; con ông Lao Văn L, sinh năm 1947 và bà Nông Thị H, sinh năm 1948. Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 6. Vợ: Chu Thị H, sinh năm 1980. Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/8/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Chu Thị H, sinh ngày 21/11/1980. Trú tại: Thôn Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lao Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 05/8/2017, Công an xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Lao Văn Q, trú tại Thôn B, xã T, huyện V đang tàng trữ tái phép vũ khí, Công an xã T đã tiến hành truy tìm và phát hiện Q tại khu vực Thôn N, xã T, qua kiểm tra phát hiện trên người Q có 01 (một) con dao, 01 (một) khẩu súng. Công an xã T, huyện V đã đưa Lao Văn Q về Ủy ban nhân dân (UBND) xã lập biên bản và và tạm giữ 01 (một) con dao nhọn có chiều dài cả cán là 43cm, 01 (một) khẩu súng có báng làm bằng gỗ dài 35,5cm, nòng súng dài 44cm, ống giảm thanh dài 24,5cm; 01 (một) xe mô tô BKS: 12U1-05248, nhãn hiệu HONDA WAVERSX, màu đỏ-đen, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lao Văn Q.

Sau khi lập biên bản, Công an xã T đã báo cáo và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số: 206/GĐ-PC45 ngày 14/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Khẩu súng giám định là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, súng bắn được loại đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,5mm. Hiện tại súng hoạt động bình thường. Bắn thực nghiệm; sử dụng khẩu súng gửi giám định bắn thực nghiệm 03 (ba) viên đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,5mm. Kết quả: Súng bắn đạn nổ 3/3 viên (đạt 100%).

Tại cơ quan điều tra Lao Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Khoảng tháng 4/2016, Lao Văn Q đi vào rừng đốt than thì gặp một người đàn ông dân tộc Mán, (Q không quen biết) có mang theo khẩu súng tự chế bắn đạn thể thao, Q đã mua khẩu súng đó với giá 600.000đ, mục đích để đi săn thú rừng, sau khi mua khẩu súng Q chưa sử dụng mà cất giấu trong rừng, đến tháng 6/2017 mới đem về nhà cất giấu.

Năm 2014 Lao Văn Q và vợ là chị Chu Thị H, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, chị H hay bỏ về nhà bố đẻ là ông Chu Cao T, trú tại thôn N, xã T, huyện V, sau những lần như vậy, Q sang nhà ông Chu Cao T để dón vợ về thì bị ông T chửi bới, nên từ đó giữa Q và ông T có mâu thuẫn với nhau. Tháng 5/2017 vợ Q bỏ nhà đi, nhưng không biết đi đâu, Lao Văn Q sang nhà ông T hỏi thì cả nhà nói không biết, vì vậy Q nghĩ ông T giấu vợ mình và đã gả cho người khác. Khoảng 16 giờ ngày 05/8/2017, Q lấy khẩu súng mà Q đã tàng trữ trái phép, bên trong có lắp sẵn 01 viên đạn, bọc trong áo mưa để vào giá trước yên xe mô tô BKS: 12U1-05248 và 01 con dao nhọn giấu trong người, sau đó điều khiển xe mô tô đến nhà ông Chu Cao T, mục đích để hỏi và yêu cầu ông T cho biết vợ Q (chị H) đang ở đâu. Khi đến nhà ông T thì không thấy ai ở nhà nên Q quay về, đi được một đoạn thì bị Công an xã T, huyện V phát hiện và đưa về trụ sở UBND xã lập biên bản và tạm giữ toàn bộ tang vật nêu trên. Quá trình khống chế và đưa Q về trụ sở UBND xã để lập biên bản, không biết viên đạn ở trong nòng súng bị rơi từ khi nào nên không thu giữ được.

Đối với người đàn ông đã bán khẩu súng cho Lao Văn Q, do không có đầy đủ thông tin, nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở điều tra.

Tại bản cáo trạng số: 18/CTr-VKS ngày 10/10/ 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, truy tố đối với bị cáo Lao Văn Q, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 230 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên cáo buộc như cáo trạng và cho rằng bị cáo Lao Văn Q đã phạm tội, nên bị cáo bị truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên cho rằng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng; là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hậu quả chưa xảy ra nên được áp dụng điểm g; p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Kiểm sát viên đề nghị tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng điểm g, p khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 230; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lao Văn Q, từ 12 đến  18 tháng tù giam.

- Không áp dụng khoản 5 Điều 230 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, vì không có tài sản để đảm bảo thi hành án.

Về tang vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao nhọn có chiều dài cả cán là 43cm.

- Tịch thu khẩu súng tự chế có báng làm bằng gỗ dài 35,5cm, nòng súng dài 44cm, ống giảm thanh dài 24,5cm. Giao cho Ban chỉ huy quân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn quản lý theo quy định.

- Trả lại cho gia đình bị cáo 01 xe mô tô BKS: 12U1-05248, nhãn hiệu  HONDAWAVERSX  màu  đỏ-đen,  số  khung:  3100EY031226;  số  máy: JA31E0104466, xe đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lao Văn Q.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; chị Chu Thị H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho xin lại chiếc xe mô tô BKS: 12U1-05248,  nhãn  hiệu HONDAWAVERSX màu đỏ-đen, để gia đình làm phương tiện đi lại. Đây là tài sản chung của vợ chồng chị, đã bán trâu và dê để lấy tiền mua xe.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Lao Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ đó phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định bị cáo Lao Văn Q thực hiện hành vi như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 05/8/2017, Công an xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Lao Văn Q, trú tại Thôn B, xã T, huyện V đang tàng trữ tái phép vũ khí, qua kiểm tra phát hiện trên người Q có 01 (một) con dao, 01 (một) khẩu súng. Công an xã T, huyện V đã đưa Lao Văn Q về Ủy ban nhân dân (UBND) xã lập biên bản và và tạm giữ 01 (một) con dao nhọn có chiều dài cả cán là 43cm, 01 (một) khẩu súng có báng làm bằng gỗ dài 35,5cm, nòng súng dài 44cm, ống giảm thanh dài 24,5cm. Sau khi lập biên bản, Công an xã T đã báo cáo và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định. Tại bản kết luận giám định số: 206/GĐ-PC45 ngày 14/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Khẩu súng giám định là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, súng bắn được loại đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,5mm. Hiện tại súng hoạt động bình thường. Bắn thực nghiệm; sử dụng khẩu súng gửi giám định bắn thực nghiệm 03 (ba) viên đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,5mm. Kết quả: Súng bắn đạn nổ 3/3 viên (đạt 100%). Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận vào khoảng tháng 4/2016 Lao Văn Q đi vào rừng đốt than thì gặp một người đàn ông dân tộc Mán, (Q không quen biết) có mang theo khẩu súng tự chế bắn đạn thể thao, Q đã mua khẩu súng đó với giá 600.000đ, mục đích để đi săn thú rừng, sau khi mua khẩu súng Q chưa sử dụng mà cất giấu trong rừng, đến tháng 6/2017 mới đem về nhà cất giấu. Tháng 5/2017 do vợ là chị Chu Thị H bỏ nhà đi, nhưng không biết đi đâu, Lao Văn Q sang nhà bố vợ là ông Chu Cao T hỏi thì cả nhà nói không biết, vì vậy Lao Văn Q nghĩ ông T giấu vợ mình và đã gả cho người khác. Khoảng 16 giờ ngày 05/8/2017, Q lấy khẩu súng mà Q đã tàng trữ trái phép, bên trong có lắp sẵn 01 viên đạn, bọc trong áo mưa để vào giá trước yên xe mô tô BKS: 12U1-05248 và 01 con dao nhọn giấu trong người, sau đó điều khiển xe mô tô đến nhà ông Chu Cao T, mục đích để hỏi và yêu cầu ông T cho biết chị H đang ở đâu. Khi đến nhà ông T thì không thấy ai ở nhà nên Q quay về, đi được một đoạn thì bị Công an xã T, huyện V phát hiện và đưa về trụ sở UBND xã lập biên bản và tạm giữ toàn bộ tang vật nêu trên.

Như vậy, bị cáo Lao Văn Q đã cố ý thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Lao Văn Q là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước; gây hoang mang; bất bình, lo lắng cho nhân dân sở tại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, an toàn xã hội tại địa phương. Bởi vậy, cần phải có mức án nghiêm minh đối với bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét tính chất mức độ: Hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của bị cáo là nghiêm trọng được quy định tại khoản 1 Điều 230 của Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân bị cáo Lao Văn Q là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sống ở vùng sâu vùng xa, vùng có khó khăn về kinh tế, trình độ văn hóa thấp nên sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bản thân và gia đình thuộc diện hộ nghèo (bút lục số 26), Do vậy, cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo điểm g; p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, hậu quả chưa xảy ra; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bởi vậy. Hội đồng xét xử thấy, cũng cần có mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác, bị cáo không có tài sản để đảm bảo thi hành án, bản thân và gia đình thuộc diện hộ nghèo, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 230 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và phần hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về tang vật: Xét thấy; vật chứng là 01 (một) con dao nhọn có chiều dài cả cán là 43cm, cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định của pháp luật. Khẩu súng tự chế có báng làm bằng gỗ dài 35,5cm, nòng súng dài 44cm, ống giảm thanh dài 24,5cm, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, do vậy, cần tịch thu và giao cho Ban chỉ huy quân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn quản lý theo quy định.

- Trả lại cho chị Chu Thị H, là vợ của bị cáo 01 (một) xe mô tô BKS:12U1-05248, nhãn hiệu HONDAWAVERSX màu đỏ-đen, số khung: 3100EY031226; số máy: JA31E0104466, xe đã qua sử dụng, vì là tài sản chung

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lao Văn Q. Toàn bộ số tang vật trên, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2017 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

I. Tuyên bố: Bị cáo Lao Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 230; Điều 33; điểm p khoản 1; 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.  Xử phạt bị cáo Lao Văn Q, 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/8/2017.

II. Về tang, tài vật: Căn cứ khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao nhọn có chiều dài cả cán là 43cm. Tịch thu khẩu súng tự chế có báng làm bằng gỗ dài 35,5cm, nòng súng dài 44cm, ống giảm thanh dài 24,5cm. Giao cho Ban chỉ huy quân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn quản lý theo quy định.

- Trả lại cho chị Chu Thị H, là vợ của bị cáo 01 (một) xe mô tô BKS: 12U1-05248, nhãn hiệu HONDAWAVERSX màu đỏ-đen, số khung: 3100EY031226; số máy: JA31E0104466, xe đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lao Văn Q (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2017 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn).

III. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


113
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2017/HS-ST ngày 02/11/2017 về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

Số hiệu:20/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Quan - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về