Bản án 20/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 20/2017/HS-ST NGÀY 30/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2017/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2017/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo: Lê Thanh H (H), sinh năm 1975, tại Đ A, Hà Nội.

Nơi cư trú: Tổ 5, thị trấn Đ A, huyện Đ A, thành phố H N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn X và bà Phạm Thị Nh; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con;

Tiền án,Tiền sự: không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 31/8/2017 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 00 phút, ngày 31/8/2017, tại bản C L, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Tổ công tác công an huyện V H dừng xe máy BKS 26F1 – 5880 do Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: Tiểu Khu B v 1, thị trấn N tr M Ch, huyện M Ch chở phía sau Lê Thanh H (H). Phát hiện Lê Thanh H (H) tàng trữ trái phép trong người chất ma túy. Tang vật thu giữ là 01 gói nilon màu đen, bên trong đựng chất bột màu trắng, Lê Thanh H (H) khai đó là Hêrôin đã mua của người đàn ông dân tộc Mông ở bản C T, xã L L, huyện V H để sử dụng. H và Đ khai nhận: Do H làm thuê cho Đ, nên ngày 31/8/2017, H đến nhà rủ Đ đi chơi, tìm việc làm thuê. Đ đồng ý, lấy xe máy BKS 26F1 – 1588 chở H đến nhà một người dân tộc Mông ở bản C T. Đến ơi, Đ đứng ngoài, còn H vào nhà hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông 01 gói Hêrôin với giá 500.000 đồng. Mua xong, H ra sau bếp lấy một ít ma túy sử dụng. Còn lại gói lại, cầm trên tay quay ra ngoài bào Đ không tìm được việc và quay về. Khi cả hai đến bản C L, xã L L thì bị Tổ công tác Công an huyện V H phát hiện bắt quả tang. Lúc đó, Đ mới biết H tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của bị cáo 100.000 đồng.

Cùng ngày, Tại Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh số ma túy thu giữ của Lê Thanh H (H) xác định được trọng lượng 1,75 gam, trích 0,17 gam làm mẫu gửi giám định, ký kiệu HĐ.

Kết luận giám định số 863/KLMT ngày 05/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận " Mẫu gửi giám định ký hiệu HĐ là chất ma túy; Loại chất Hêrôin; Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam; Trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 1,75 gam. Loại chất Hêrôin”

Xét thấy Nguyễn Văn Đ không biết và không liên quan đến việc mua và cất giấu trái phép chất ma túy của Lê Thanh H (H), Cơ quan điều tra đã trả tự do và trả lại chiếc xe máy BKS 26F1 – 1588 cho Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng.

Cáo trạng số 93/CT – VKS ngày 15/11/2017 của VKSND huyện V H, truy tố Lê Thanh H (H) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 194 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Lê Thanh H (H) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy 

* Áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 điều 7, điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015; điểm h khoản 2 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội quy định áp dụng một hình phạt nhẹ hơn, có lợi hơn cho người phạm tội, xử phạt: Lê Thanh H (H) từ 24 đến 30 tháng tù.

+ Không phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự, điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,58 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu. Tạm giữ của bị cáo số tiền 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án. Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại Nguyễn Văn Đ chiếc xe máy BKS 26F1 – 1588.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do nghiện ma túy, Lê Thanh H (H) đã rủ Nguyễn Văn Đ đi tìm việc làm nhưng thực chất H lợi dụng để đi tìm mua ma túy về sử dụng. Đ điều khiển xe máy chở H đến nhà người phụ nữ dân tộc Mông ở bản C T, xã L L, huyện V H. H vào nhà mua được 01 gói Hêrôin trọng lượng 1,75 gam với giá 500.000 đồng mục đích về sử dụng, trong khi Đ đứng ngoài không biết. Trên đường quay về, H bị Tổ công tác Công an huyện V H phát hiện bắt giữ.

Hành vi tàng trữ 1,75 gam Hêrôin mục đích để sử dụng của Lê Thanh H (H) đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 điều 194 BLHS 1999 và điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015.

Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây,

thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) ......................................................................................................................

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

So sánh hai điều luật của hai Bộ luật cho thấy, điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định hình phạt nhẹ hơn so với điều 194 của Bộ luật hình sự 1999.

Căn cứ vào khoản 3 điều 7, điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015; điểm h khoản 2 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội quy định áp dụng một hình phạt nhẹ hơn, có lợi hơn cho người phạm tội. Hội đồng xét xử cần cân nhắc tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo Lê Thanh H (H), nhưng cũng cần áp dụng hình phạt tương xứng đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[2] Tính chất hành vi của các bị cáo: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý. HĐXX xét thấy, việc khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục xử phạt tù đối với bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối lỗi, nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS.

[4] Về phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị; nghiện ma tuý, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,58 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Số tiền 100.000 đồng thu của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, không tịch thu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Nguyễn Văn Đ không biết và không liên quan đến việc mua và cất giấu trái phép chất ma túy của Lê Thanh H (H), Cơ quan điều tra đã trả tự do và trả lại chiếc xe máy BKS 26F1 – 1588 cho Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng là có căn cứ, cần chấp nhận.

[6] Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ ở bản C L, xã L L, huyện V H. Không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 BLHS 1999; khoản 3 điều 7, điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015; điểm h khoản 2 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H (H) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lê Thanh H (H) 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 31/8/2017.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,58 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu.

+ Tạm giữ của bị cáo 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí.

+ Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Dream Super BKS 26F1 – 5880 cho ông Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng.

Toàn bộ Vật chứng theo biên bản giao vật chứng số: 17/BBVC, và Biên lai thu tiền số 001736 ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V H.

3. Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về