Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 894/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã H, huyện T, thành phố H; chỗ ở hiện nay: Thôn 2, xã K, huyện T, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã H, huyện T, thành phố H; chỗ ở hiện nay: Thôn 6, xã H, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 12 năm 2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố H. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh Nguyễn Văn H tại thôn 6, xã H, huyện T, thành phố H. Quá trình vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2018 anh Nguyễn Văn H đã đuổi chị về nhà bố mẹ đẻ ở tại thôn 2, xã K, huyện T, thành phố H nhưng sau đó hai bên gia đình đã hòa giải và vợ chồng đã quay về chung sống với nhau nhưng được một thời gian thì vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Văn H đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn 2, xã K, huyện T, thành phố H sống từ tháng 12 năm 2018 và vợ chồng chị đã sống ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Nguyễn Thị Q khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Văn H không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q trình bày vợ chồng chị có 01 con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2017. Hiện nay anh Nguyễn Văn H đang trực tiếp con chung. Trường hợp vợ chồng chị ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung tên Nguyễn Minh H cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Q trình bày vợ chồng chị không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18 tháng 01 năm 2019, biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 18 tháng 01 năm 2019 và các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Q vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố H. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh tại thôn 6, xã H, huyện T, thành phố H. Quá trình vợ chồng anh chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Anh đã đuổi chị Nguyễn Thị Q về nhà bố mẹ đẻ ở tại thôn 2, xã K, huyện T, thành phố H nhưng hai bên gia đình hòa giải và vợ chồng anh đã quay về chung sống với nhau nhưng chỉ được một thời gian thì vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Nguyễn Thị Q đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị Nguyễn Thị Q đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn 2, xã K, huyện T, thành phố H sống từ tháng 12 năm 2018 và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Nguyễn Thị Q có đơn xin ly hôn anh, quan điểm của anh không đồng ý ly hôn mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung. Trường hợp chị Nguyễn Thị Q kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn H trình bày vợ chồng anh có 01 con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2017. Hiện nay anh đang nuôi con chung. Trường hợp vợ chồng anh ly hôn anh yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung tên Nguyễn Minh H cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị Nguyễn Thị Q cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp Tòa án giải quyết giao con chung cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng thì mỗi tháng anh sẽ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị Nguyễn Thị Q là 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn H trình bày vợ chồng anh không có tài sản chung, không vay nợ ai, không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Văn H chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án , chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh H cho chị Nguyễn Thị Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Văn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh Nguyễn Văn H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố H vào ngày 03  tháng 10 năm 2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H chung sống hoà thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Nay chị Nguyễn Thị Q khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Văn H không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Bị đơn là anh Nguyễn Văn H không đồng ý ly hôn mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con chung. Tài liệu xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị Nguyễn Thị Q đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn 2, xã K, huyện T, thành phố H sống từ tháng 12 năm 2018 và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Như vậy thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc anh Nguyễn Văn H không đồng ý ly hôn chỉ nhằm mục đích gây khó khăn cho chị Nguyễn Thị Q. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn H, cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2017. Hiện nay anh Nguyễn Văn H đang trực tiếp nuôi con chung. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Q đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Q đều có điều kiện và khả năng nuôi con như nhau, anh Nguyễn Văn H là người trực tiếp nuôi con từ tháng 12 năm 2018 đến nay nhưng hiện nay con chung tên Nguyễn Minh H dưới 36 tháng tuổi cần có sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q, giao con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn H trình bày trong trường hợp Tòa án giải quyết giao con chung cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng thì mỗi tháng anh sẽ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng nhưng chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn H thống nhất vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án , chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụQuốc hội quy định về mức thu,  miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000194 ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố H. Chị Nguyễn Thị Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về