Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 07/08/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/08/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 07 tháng 8 năm 2019, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T

Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường Quảng P, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

 - Bị đơn: Anh Cao Xuân D

Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường Quảng P, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình.Vắng mặt.

(Anh D có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2019, bản tự khai, quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Cao Xuân D yêu nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quảng P, huyện Quảng T ( nay là phường Quảng P, thị xã Ba Đ), tỉnh Quảng Bình vào ngày 25/7/1994. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp tính tình, lối sống, thường xuyên xích mích, cãi cọ nhau. Anh D thường xuyên đánh đập, chửi bới chị nên mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị và anh D sống ly thân từ tháng 4/2010 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Cao Xuân D.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh D có 03 con chung là Cao Ngọc L – sinh ngày 29/3/1995, Cao Thị Thu H – sinh ngày 05/6/1997 và Cao Ngọc H – sinh ngày 20/02/1998. Do các con chung đều đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét.

Về tài sản chung: Chị và anh D tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với anh Cao Xuân D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập các đương sự đến làm việc nhưng anh D đều không đến nên Tòa án không thể tổ chức hòa giải được. Qua cung cấp thông tin của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và kết quả xác minh tại Công an phường Quảng P thì anh Cao Xuân D hiện vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố 3, phường Quảng P, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình, tuy nhiên hiện anh D đang làm ăn, sinh sống tại thôn 1, xã Long B, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước nhưng tại đây anh D không đăng ký tạm trú.

Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước xác minh nơi làm ăn, sinh sống của anh D đồng thời lấy ý kiến của anh Cao Xuân D về việc chị T xin ly hôn anh. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước, anh Cao Xuân D trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào năm 1994, sau khi chung sống được một thời gian thì hai người xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã, đánh đập nhau nên hai người đã ly thân hơn 4 năm, không ai quan tâm đến ai, nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Cao Ngọc L - sinh ngày 29/3/1995, Cao Thị Thu H - sinh ngày 05/6/1997 và Cao Ngọc H - sinh ngày 20/02/1998. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, vợ chồng anh tự thỏa thuận phân chia.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung: Thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Cao Xuân D và chị Nguyễn Thị T; về con chung và tài sản chung đề nghị không xem xét giải quyết; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; nguyên đơn phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Cao Xuân D đến Tòa án và Ủy ban nhân dân phường Quảng P hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn, nhưng anh Cao Xuân D vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết.

Qua xác minh tại địa phương (UBND phường Quảng P) thì anh Cao Xuân D đang có hộ khẩu thường trú tại địa phương. Mặt khác, theo trình bày của chị T thì anh D đang làm ăn sinh sống tại thôn 1, xã Long B, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước nhưng tại đây anh D không đăng ký tạm trú.

Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước xác minh nơi làm ăn, sinh sống của anh D đồng thời lấy ý kiến của anh Cao Xuân D về việc chị T xin ly hôn anh. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước thì anh Cao Xuân D trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào năm 1994, sau khi chung sống được một thời gian thì hai người xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã, đánh đập nhau nên hai người đã ly thân hơn 4 năm, không ai quan tâm đến ai, nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Cao Ngọc L - sinh ngày 29/3/1995, Cao Thị Thu H - sinh ngày 05/6/1997 và Cao Ngọc H - sinh ngày 20/02/1998. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, vợ chồng anh tự thỏa thuận phân chia đồng thời anh xin được xét xử vắng mặt.

Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xử vắng mặt anh Cao Xuân D là có căn cứ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quảng P, huyện Quảng T (nay là phường Quảng P, thị xã Ba Đ), tỉnh Quảng Bình vào ngày 25/7/1994 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị có nhiều mâu thuẫn, tính tình không hợp nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn, anh D cũng đồng ý và xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình cần xử Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Cao Xuân D là phù hợp.

[3] Về con chung : Chị T và anh D có 03 con chung là Cao Ngọc L – sinh ngày 29/3/1995, Cao Thị Thu H - sinh ngày 05/6/1997 và Cao Ngọc H – sinh ngày 20/02/1998. Do các con chung đều đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, cả chị T và anh D không yêu cầu Tòa án xem xét về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị T và anh D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc chị Nguyễn Thị T và anh Cao Xuân D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Cao Xuân D.

2. Về con chung: Không xem xét.

3. Về tài sản chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002331 ngày 21 tháng 3 năm 2019. (Chị Nguyễn Thị T được nhận lại 150. 000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp); anh Cao Xuân D phải chịu 150.000 đồng án phí lý hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

5. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản sao bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi họ thường trú.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 07/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ba Đồn - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về