Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 12/06/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 12 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Yến N, sinh năm 1997;

Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn A, sinh năm 1991;

Địa chỉ cư trú: Tổ 19, ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 3 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Yến N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh A quen biết, tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2015 đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 271/2016/QĐST-HNGĐ ngày 14-7-2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Đến năm 2018 chị và anh Đỗ Văn A tiếp tục chung sống lại với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 22-5-2018 tại Ủy ban nhân dân xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chung sống vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng chung sống nhưng tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống. Ngoài ra, chị và anh A còn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về vấn đề kinh tế gia đình, không tin tưởng lẫn nhau, anh A còn dùng những lời lẽ xúc phạm cha mẹ của chị nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau. Ngày 31-7-2018 anh A bỏ về nhà ba mẹ ruột anh ở ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh sống cho đến nay. Hiện tại cuộc sống gia đình chị không còn hạnh phúc nữa, không thể chung sống với nhau được nữa. Vợ chồng chị ly thân từ ngày 31-7-2018 đến nay vẫn không có biện pháp khắc phục hàn gắn gia đình. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn A.

Về con chung: Chị và anh A có 02 người con chung tên Đỗ Thị Kim Ng, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2016 (nữ) và Đỗ Thành Đ sinh ngày 11 tháng 6 năm 2018 (nam). Hiện tại cháu Ng và cháu Đ đang sống chung với chị. Nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, chị không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Đối với bị đơn - anh Đỗ Văn A:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh A không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù Công an xã Tiên Thuận xác nhận anh vẫn còn hộ khẩu ở địa phương, anh vẫn đi đi về về nhà nhưng cố tình vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Đỗ Văn A đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N , anh A là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N , cho chị N được ly hôn với anh A. Về con chung: Áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao cháu Đỗ Thị Kim Ng, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2016 và cháu Đỗ Thành Đ sinh ngày 11 tháng 6 năm 2018 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị N không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Võ Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đỗ Văn A được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N , anh A theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh A trên cơ sở tự nguyện đã kết hôn với nhau vào năm 2015 đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 271/2016/QĐST-HNGĐ ngày 14-7-2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, đến năm 2018 vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vào ngày 22 tháng 5 năm 2018, nên hôn nhân của chị N , anh A là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện chị N trình bày mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng chung sống nhưng tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống. Ngoài ra, chị N và anh A còn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về vấn đề kinh tế gia đình, không tin tưởng lẫn nhau, anh A dùng lời lẽ xúc phạm cha mẹ của chị N . Vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng vào ngày 31 tháng 7 năm 2018 anh A bỏ về nhà ba mẹ ruột ở ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh sống và ly thân từ ngày 31-7-2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai cũng không có biện pháp khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, anh A không chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án, cố tình vắng mặt không đến, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N . Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N , cho chị N được ly hôn với anh A là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Võ Thị Yến N và anh Đỗ Văn A có 02 người con chung tên Đỗ Thị Kim Ng, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2016 và Đỗ Thành Đ sinh ngày 11 tháng 6 năm 2018. Nay ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Ng, cháu Đ hiện còn nhỏ tuổi, cần sự chăm sóc và giáo dục của người mẹ và hiện tại cháu Ng, cháu Đ đang sống chung với chị N , do vậy cần giao cháu Ng, cháu Đ cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. 

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị N không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã giải thích quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn cho chị N nghe nhưng chị N vẫn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.

Anh Đỗ Văn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị N xác định chị và anh A không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Võ Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Yến N với anh Đỗ Văn A .

Chị Võ Thị Yến N được ly hôn với anh Đỗ Văn A.

2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Kim Ng, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2016 và cháu Đỗ Thành Đ sinh ngày 11 tháng 6 năm 2018 cho chị Võ Thị Yến N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Đỗ Văn A không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.

Anh Đỗ Văn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Võ Thị Yến N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Chị Võ Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0021921 ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Chị N đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm

Anh Đỗ Văn A không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị N có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Anh A có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 12/06/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về