Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 24 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 633/2018/TLST-HNGĐ ngày 05/12/2018, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02/5/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1992.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1993.

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Các đương sự có mặt tại phiên toà bà Lê Thị N. Vắng mặt ông Nguyễn Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 11 năm 2018, cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và sống chung từ năm 2011, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận ngày 10/3/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và con. Khi phát sinh mâu thuẫn, cả hai bên không cùng thiện chí giải quyết vấn đề nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2014 đến nay. Từ khi ly thân thì vợ chồng không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, mạnh ai người đó sống. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ánh T, sinh ngày 29/8/2012. Hiện nay con đang sống với bà Lê Thị N.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nguyên đơn Lê Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị N yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Lê Thị N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Ánh T, sinh ngày 29/8/2012. Bà Lê Thị N không yêu cầu ông Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã thông báo về phiên hòa giải và tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị N. Bà Lê Thị N được ly hôn ông Nguyễn Văn D. Giao con tên Nguyễn Ánh T, sinh ngày 29/8/2012 cho bà Lê Thị N nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn D. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn ông Nguyễn Văn D có địa chỉ tại thôn A, xã L, huyện Hàm Thuận Bắc, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Nguyễn Văn D tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Bởi lẽ, ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông Nguyễn Văn D tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn D.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận ngày 10/3/2014, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong cuộc sống, do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả đánh nhau, không ai nhịn ai nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ giữa năm 2014 đến nay, bà Lê Thị N và ông Nguyễn Văn D không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm gì đến nhau. Từ khi ly thân đến nay, ông Nguyễn Văn D không quan tâm gì đến gia đình, không còn tha thiết gì với hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn D cố tình lẫn tránh, không hợp tác, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, bà Lê Thị N kiên quyết ly hôn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà Lê Thị N xin ly hôn với ông Nguyễn Văn D là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Văn D có 01 con chung tên: Nguyễn Ánh T, sinh ngày 29/8/2012. Hiện nay cháu Nguyễn Ánh T còn nhỏ và đang ở với bà Lê Thị N. Để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu Nguyễn Ánh T, nghĩ nên giao con cho bà Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Lê Thị N không yêu cầu ông Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Ông Nguyễn Văn D có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[3.3] Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Lê Thị N, vì là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị N ly hôn ông Nguyễn Văn D.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ánh T, sinh ngày 29/8/2012 cho bà Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Văn D có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí:

- Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Lê Thị N.

- Ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/5/2019). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Bắc - Bình Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về