Bản án 20/2019/HSST ngày 05/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 20/2019/HSST NGÀY 05/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05/3/2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2019/HSST ngày 29/01/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 18/02/2019 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/11/1990; nơi thường trú: Thôn Thác Bưởi 2, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Bố là Đặng Văn H, sinh năm 1967, trú tại thôn Thác Bưởi 2, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng N và mẹ là Hoàng Thị H (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ con: Chưa có; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 23/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 01/3/2017 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Nhân thân: Ngày 29/7/2008, Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”’; Ngày 21/4/2010, Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt ngày 28/11/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

2. Đào Mạnh Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/02/1986; Hộ khẩu thường trú: khu 6, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N; Chỗ ở: khu 6, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Bố là Đào Mạnh K, sinh năm 1953 và mẹ là Đào Thị L; sinh năm 1956, cùng trú tại: Tổ 3, khu 6, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ là Nguyễn K, Sinh năm: 1996, trú tại: Tổ 3, khu 9, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2013; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 22/5/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 26/3/2017 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt ngày 28/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Đảo H, sinh năm 1996, thường trú tại xã Đồng Tiến, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng N, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Những người làm chứng:

+ Anh Trịnh Hồng P, sinh năm 1985, trú tại tổ 39, khu 11, phường Q Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng N, vắng mặt;

+ Anh Đỗ Thanh B, sinh năm 1989, trú tại thôn Thượng Thông, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 28/11/2018, tại khu tập thể Công ty than Uông Bí thuộc phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng N, Đặng Văn N và Đào Mạnh Q có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Đảo H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, Biển kiểm soát 14T1-001.55 trị giá 36.000.000 đồng. 

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn N khai: Khoảng 3 giờ sáng ngày 28/11/2018, bị cáo cùng với bị cáo Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo đi từ phòng trọ lên thành phố Uông Bí, khi đến khu tập thể công ty than Uông Bí ở phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, thấy cổng không đóng kín nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp, bị cáo mở cốp xe mô tô lấy một chiếc kéo bằng sắt cán màu xanh cho vào túi áo rồi mở cổng đi vào trong khu tập thể, khi phát hiện có xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen trắng gắn biển kiểm soát 14T1-001.55 không khóa càng, bị cáo thử dùng kéo chọc vào ổ khóa điện nhưng không phá được, bị cáo bèn dắt xe ra ngoài sân rồi dùng chân đạp mạnh vào tay lái bên trái làm hỏng khóa cổ xe, sau đó bị cáo dắt xe ra ngoài rồi ngồi lên xe, còn bị cáo Q điều khiển xe của mình đẩy xe của bị cáo đi, bị cáo mang xe trộm cắp được về phòng trọ ở thôn Yên Dưỡng, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều. Sau đó bị cáo bị cơ quan chức năng đến kiểm tra bắt quả tang.

Bị cáo khai mình là người khởi xướng việc phạm tội, bị cáo rủ bị cáo Q cùng đi trộm cắp, khi đến khu tập thể bị cáo đã phân công cho bị cáo Q đứng cảnh giới ở bên ngoài để mình vào trong trộm cắp tài sản, khi bị cáo mang xe mô tô lấy trộm được ra thì bị cáo Q giúp bị cáo đẩy xe về phòng trọ. Ngoài bị cáo Q ra bị cáo không bàn bạc về việc trộm cắp tài sản với người nào khác.

Bị cáo khai cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter là tang vật vụ án, 01 kéo kim loại cán màu xanh là đồ của bị cáo đã dùng chọc ổ khóa điện khi lấy trộm xe máy, ngoài ra còn thu giữ 01 khoan cầm tay màu xanh, 01 đầu vam bốn cạnh, 04 chiếc cà lê, 01 chiếc kìm, 02 chiếc tuốc nơ vít, đây là những đồ của bị cáo dùng để tháo rời các bộ phận trên chiếc xe mô tô trộm cắp ra.

Tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Đào Mạnh Q khai: Trước đây bị cáo và bị cáo N quen nhau trong thời gian chấp hành án phạt tù, gần đây biết bị cáo N đang trọ trên thị xã Đông Triều nên bị cáo đã đi xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo lên đấy chơi. Khoảng 3 giờ sáng ngày 28/11/2018, bị cáo N rủ bị cáo đi vòng quanh thành phố Uông Bí xem có tài sản nào để sơ hở thì sẽ trộm cắp, khi đến khu tập thể công ty than Uông Bí, thấy cổng không đóng kín bị cáo N bảo bị cáo đứng ngoài cảnh giới, rồi bị cáo N lấy trong cốp xe mô tô một chiếc kéo sắt cán màu xanh và nhét vào túi, rồi bị cáo N mở công đi vào bên trong, một lúc sau bị cáo N đẩy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen biển kiểm soát 14T1-00155 ra. Bị cáo N ngồi trên chiếc xe vừa lấy trộm được và bảo bị cáo điều khiển xe của mình để đẩy chiếc xe mô tô vừa lấy trộm được từ phía sau. Sau đó hai bị cáo đi về phòng trọ của bị cáo N ở thị xã Đông Triều. Khi đến nơi thì bị cáo N gọi chị Vân là bạn gái N ra mở cửa, nhưng hai bị cáo không nói gì với chị Vân về việc trộm cắp tài sản. Sau đó cơ quan chức năng đến kiểm tra nơi ở của bị cáo N và phát hiện ra tang vật vụ án.

Bị cáo khai bị cáo N là người khởi xướng việc phạm tội, bị cáo đi theo và làm theo sự phân công của bị cáo N. Hai bị cáo không nói với ai khác về việc đi trộm cắp tài sản. Chiếc xe Yamaha Nouvo mà bị cáo dùng để chở bị cáo N đi trộm cắp bị cáo đã nhờ anh Đỗ Thanh B giữ hộ.

Tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại trong vụ án là anh Nguyễn Đảo H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Khoảng 23 giờ ngày 27/11/2018, anh đi chơi với bạn về và để xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14T1-00155 ở sân để xe của khu tập thể công ty than Uông Bí thuộc phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, anh có khóa cổ xe và ấn khóa lắp đậy trước khi lên phòng ngủ. Sáng hôm sau anh xuống thì phát hiện ra xe của mình đã bị mất trộm và đã làm đơn trình báo công an.

Trong quá trình điều tra anh đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô bị trộm cắp nói trên.

Anh Nguyễn Đảo H đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn anh đề nghị về phần hình phạt xử lý hai bị cáo theo quy định pháp luật, về phần dân sự anh đã nhận lại xe nên không yêu cầu hai bị cáo phải bồi thường cho mình, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Người làm chứng là anh Trịnh Hồng P vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Khoảng 4 giờ ngày 28/11/2018, khi anh đi chơi về đến đoạn cổng khu tập thể công ty than Uông Bí thì phát hiện hai nam thanh niên ngồi trên hai xe mô tô, người ngồi xe sau dùng chân đẩy xe phía trước, còn người ngồi xe trước điều khiển tay lái, thấy họ đeo khẩu trang, điệu bộ khả nghi nên anh đã đi theo đến nơi ở của họ ở thị xã Đông Triều, sau đó anh đã trình báo sự việc lên cơ quan chức năng.

Người làm chứng là anh Đỗ Thanh B vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Khoảng cuối năm 2018 bị cáo N cùng bạn gái tên là Vân đến hỏi mượn nhà ở tạm vài ngày, vì có quen biết với bị cáo N trước nên anh mượn cho bị cáo một ngôi nhà hoang ở thôn Yên Dưỡng, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, thỉnh thoảng đến chơi với bị cáo N thì anh có gặp và biết mặt bị cáo Q. Việc trộm cắp tài sản của hai bị cáo anh hoàn toàn không được biết, ngoài ra anh cũng không giữ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo của bị cáo Q.

Tại bản kết luận định giá số 101 ngày 29/11/2018, hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Uông Bí kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 14T1-001.55 có giá là 36.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 23 ngày 29/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố hai bị cáo Đặng Văn N, Đào Mạnh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố hai bị cáo Đặng Văn N, Đào Mạnh Q về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đặng Văn N từ 21 tháng tù đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 28/11/2018;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đào Mạnh Q từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 28/12/2018;

- Không áp dụng hình phạt bổ sung với hai bị cáo.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 máy khoan cầm tay màu xanh, 01 đầu vam bốn cạnh, 04 chiếc cờ lê, 01 chiếc kìm, 02 tuốc nơ vít, 01 chiếc kéo kim loại màu xanh dài 23cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Cơ quan điều tra thành phố Uông Bí, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[1.2] Bị hại trong vụ án là anh Nguyễn Đảo H được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với các bị cáo, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 28/11/2018, tại khu tập thể Công ty than Uông Bí thuộc phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng N, Đặng Văn N và Đào Mạnh Q có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Đảo H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 14T1-001.55 trị giá 36.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của hai bị cáo Đặng Văn N, Đào Mạnh Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”

Hành vi trộm cắp tài sản của hai bị cáo Đặng Văn N và Đào Mạnh Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong vụ án này, bị cáo N và bị cáo Q đều là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng bởi vì lòng tham nên vẫn cố ý phạm tội, hai bị cáo đã lợi dụng lúc đêm tối, không có người trông giữ tài sản để lén lút lấy trộm chiếc xe máy của bị hại là anh Nguyễn Đảo H, vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức án nghiêm khắc đối với hai bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo N có một tiền án: vào ngày 23/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 01/3/2017 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Ngoài ra, trước đây vào ngày 29/7/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”’ và vào ngày 21/4/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Q có một tiền án: Ngày 22/5/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 26/3/2017 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Vì vậy bị cáo N và bị cáo Q đều phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về vai trò trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo N là người khởi xướng giữ vai trò đầu vụ, chính bị cáo N là người rủ bị cáo Q đi trộm cắp tài sản, bị cáo N phân công bị cáo Q ở ngoài cảnh giới để mình vào lấy trộm tài sản, khi lấy trộm được xe máy thì bị cáo N bảo bị cáo Q đi xe mô tô từ phía sau đẩy xe mô tô lấy trộm được về phòng trọ của bị cáo N. Bị cáo Q làm theo sự phân công của bị cáo N nên giữ vai trò thứ hai.

[6] Sau khi xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo và đánh giá nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly hai bị cáo khỏi xã hội một thời gian để hai bị cáo tập trung cải tạo tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Trong vụ án này bị cáo N và bị cáo Q mỗi người đều có một tiền án, ngoài ra bị cáo N trước đó còn hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên tuyên phạt tù về tội trộm cắp tài sản, trong vụ án này còn giữ vai trò đầu vụ, vì vậy bị cáo N phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo Q.

[7] Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

[8] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đen mà bị cáo N và Q sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra bị cáo Q khai đã nhờ anh Đỗ Thanh B giữ hộ nhưng anh Bằng không thừa nhận việc này, vì vậy không đủ cơ sở xử lý.

[9] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14T1-001.55, 01 kéo kim loại cán màu xanh, 01 khoan cầm tay màu xanh, 01 đầu vam bốn cạnh, 04 chiếc cà lê, 01 chiếc kìm, 02 chiếc tuốc nơ vít.

Xét thấy: Chiếc xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 14T1-001.55 là tài sản bị trộm cắp của bị hại, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên không đề cập giải quyết. Đối với 01 kéo kim loại cán màu xanh bị cáo N dùng để chọc ổ khóa điện xe mô tô, 01 khoan cầm tay màu xanh, 01 đầu vam bốn cạnh, 04 chiếc cà lê, 01 chiếc kìm, 02 chiếc tuốc nơ vít là đồ bị cáo N dùng để tháo rời các bộ phận trên chiếc mô tô bị trộm cắp, vì vậy cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[10] Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy hai bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[11] Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

[12] Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Đặng Văn N và Đào Mạnh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 28/11/2018;

Xử phạt: Bị cáo Đào Mạnh Q 21 (hai mươi mốt) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 28/12/2018.

Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 kéo kim loại có cán bọc nhựa màu xanh, 01 khoan cầm tay màu xanh, 01 đầu vam bốn cạnh, 04 chiếc cà lê, 01 chiếc kìm, 02 chiếc tuốc nơ vít (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí ngày 30/01/2019).

Về án phí: Buộc hai bị cáo Đặng Văn N và Đào Mạnh Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho hai bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


37
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 20/2019/HSST ngày 05/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:20/2019/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:05/03/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về